- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Nguyên đơn Ngô Việc T - Bị đơn Trần Thị Mỹ H"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị Mỹ H. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2018/DS-ST ngày 22 tháng 5 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bạc Liêu.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 82/2018/DS-PT Ngày 29 - 8 - 2018 V/v tranh chấp bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Thanh Dũng
Các Thẩm phán:
Ông Cao Văn Tám
Ông Lê Thanh Hùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Chúc Ly – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Hồng Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 58/2018/TLPT-DS ngày 10 tháng 7 năm 2018 về việc tranh chấp bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2018/DS-ST ngày 22 tháng 5 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bạc Liêu bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 61/2018/QĐ-PT ngày 02 tháng 8 năm 2018, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Ngô Việc T, sinh năm 1974 (có mặt)
Địa chỉ: Ấp M, xã N, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.
- Bị đơn: Bà Trần Thị Mỹ H, sinh năm 1972 (có mặt)
Địa chỉ: Ấp M, xã N, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1964 (có mặt).
Anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1993 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp M, xã N, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.
- Người kháng cáo: Bị đơn bà Trần Thị Mỹ H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm, nguyên đơn bà Ngô Việc T trình bày: Vào ngày 05/9/2016 (âm lịch) bà Trần Thị Mỹ H đánh bà gãy 03 cây răng, sau đó bà đi trồng răng lại thì phải niền thêm 02 cây răng nữa, nên bà phải trồng lại là 05 cây răng, mỗi cây răng là 4.000.000 đồng, tổng cộng là 20.000.000 đồng. Nay bà yêu cầu bà H bồi thường số tiền 20.000.000 đồng. Bà chỉ yêu cầu bà H bồi thường, ngoài ra bà không yêu cầu gì khác.
Bị đơn bà Trần Thị Mỹ H trình bày: Vào ngày 05/9/2016 (âm lịch) tại ấp M, xã N, huyện P, tỉnh Bạc Liêu giữa bà và bà Ngô Việc T có xảy ra mâu thuẫn, bà có nắm đầu bà T và bà T cắn vào chân bà nên bà có dùng tay tán vào miệng của bà T một cái để bà T buông ra. Bà T yêu cầu bà bồi thường số tiền trồng răng là 20.000.000 đồng, bà không đồng ý.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H trình bày: Ông thống nhất với ý kiến trình bày của bà H và không có ý kiến hay yêu cầu gì khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn V không có lời khai do các lần triệu tập đến tòa đều vắng mặt.
Từ những nội dung nêu trên, tại Bản án sơ thẩm số 09/2018/DS-ST ngày 22 tháng 5 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bạc Liêu đã quyết định:
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147 và 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 584, 585, 586 và 590 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Việc T. Buộc bà Trần Thị Mỹ H có nghĩa vụ bồi thường cho bà Ngô Việc T số tiền là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí; lãi suất chậm trả trong giai đoạn thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định pháp luật.
Ngày 05 tháng 6 năm 2018, bị đơn bà Trần Thị Mỹ H kháng cáo không đồng ý bồi thường 20.000.000 đồng cho bà T, với lý do: Chưa xem xét yếu tố lỗi của bà T để xem xét giảm mức bồi thường trách nhiệm dân sự, bà T chỉ bị lung lay 03 cây răng nhưng buộc bà bồi thường 05 cây răng là chưa hợp lý và hóa đơn là không hợp lệ.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Trần Thị Mỹ H đồng ý bồi thường cho bà T trồng lại 03 cây răng với số tiền 12.000.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng, thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm này thấy rằng Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị Mỹ H, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 09/2018/DS-ST ngày 22 tháng 5 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bạc Liêu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu toàn bộ các tài liệu chứng cứ có lưu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến tranh luận của các đương sự, sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu, sau khi thảo luận, nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
Xét đơn kháng cáo của bà Trần Thị Mỹ H nộp trong hạn luật định và nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đúng quy định. Căn cứ vào Điều 273 và Điều 276 của Bộ luật Tố tụng dân sự, được chấp nhận xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Xét thấy, cấp sơ thẩm đưa anh Nguyễn Văn V tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là không phù hợp. Anh V không phải là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát cũng như các đương sự thống nhất đề nghị xét xử vắng mặt anh V, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh V là phù hợp quy định pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà H đồng ý bồi thường cho bà T tổng số tiền là 12.000.000 đồng. Tuy nhiên, bà T không đồng ý và yêu cầu bà H phải có nghĩa vụ bồi thường tổng số tiền là 20.000.000 đồng. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và không cung cấp chứng cứ gì mới phát sinh sau phiên tòa sơ thẩm đã xét xử.
Xét yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thị Mỹ H: Vào ngày 05 tháng 9 năm 2016 (âm lịch), bà T và bà H có xảy ra xô xát, bà H dùng tay nắm tóc bà T kéo xuống đất và dùng tay đánh vào mặt bà T dẫn đến bà T bị thương tích thiệt hại 03 cây răng số 31, 41 và 42 theo giấy chứng nhận thương tích ngày 16/9/2016 của Bệnh viện đa khoa huyện P. Sự việc xảy ra là có trên thực tế và được sự thống nhất của các đương sự. Đối với tiền chi phí điều trị bệnh, tổn thất tinh thần đã được giải quyết tại Bản án sơ thẩm số 02/2017/DS-ST ngày 15/3/2017 của Tòa án nhân dân huyện P và Bản án phúc thẩm số 60/2017/DS-PT ngày 15/8/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu đã có hiệu lực pháp luật, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Ngày 11/8/2017, bà T có đến cơ sở Nha khoa của Bác sỹ Cao T tại số 47, đường H, Khóm 2, Phường 3, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu để trồng răng giả. Theo Bác sỹ Cao T khi đến khám, bà T bị mất 03 cây răng và phải trồng răng lại, vì phải mài 02 cây răng hai bên để niền cho cố định nên phải trồng tất cả là 05 cây răng, loại răng sứ cao cấp Zolid, mỗi cây giá 4.000.000 đồng, tổng cộng là 20.000.000 đồng. Xét thấy, thiệt hại của bà T là có xảy ra trên thực tế do lỗi của bà H gây ra, nên bà H phải chịu trách nhiệm bồi thường chi phí phù hợp thực tế cho bà T như quyết định của sơ thẩm là có căn cứ phù hợp với quy định tại Điều 590 Bộ luật Dân sự.
Hóa đơn bán lẻ đề ngày 11/8/2017 do bà T cung cấp (bút lục 23), Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu đã tiến hành xác minh tại cơ sở Nha khoa của Bác sỹ Cao T ngày 21/8/2018, Bác sỹ Cao T xác định hóa đơn đề ngày 11/8/2017 là của Phòng khám Cao T xuất ra, do Phòng Khám đóng thuế khoán hàng tháng nên chỉ xuất hóa đơn bán lẻ, không có hóa đơn giá trị gia tăng nên có căn cứ hóa đơn bán lẻ là hợp lệ.
Từ những phân tích nêu trên, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị Mỹ H; có căn cứ chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 09/2018/DS-ST ngày 22/5/2018 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bạc Liêu.
Án phí dân sự phúc thẩm, bà Trần Thị Mỹ H phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147 và 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 584, 585, 586 và 590 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị Mỹ H. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2018/DS-ST ngày 22 tháng 5 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bạc Liêu.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Việc T yêu cầu bà Trần Thị Mỹ H bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm.
Buộc bà Trần Thị Mỹ H có nghĩa vụ bồi thường cho bà Ngô Việc T số tiền là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
2. Về án phí:
Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Buộc bà Trần Thị Mỹ H phải chịu số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng), nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện P, tỉnh Bạc Liêu.
Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Trần Thị Mỹ H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng). Bà H đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng theo biên lai thu số 0011734 ngày 05/6/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện P được chuyển thu án phí.
3. Kể từ ngày Bản án, Quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
4. Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TANDCC tại Tp. Hồ Chí Minh; - VKSND tỉnh Bạc Liêu; - TAND huyện Phước P; - CCTHADS huyện P; - Các đương sự; - Lưu Tổ HCTP, hồ sơ vụ án. | (Đã ký) Trương Thanh Dũng |