vanban.org

Bản án 82/2017/HSST — Hình sự

TAND Q. Hải Châu, TP Đà Nẵng Tuyên án 27/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”.

Giao bị cáo Nguyễn Văn H về UBND xã K, huyện I, tỉnh Gia Lai để quản lý giáo dục trong thời gian thử thách án treo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo điều 69 Luật thi hành án hình sự. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điều 42 bộ luật hình sự Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”.…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; luật hình sự Trả; Điều 226b Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP ĐÀ NẴNG TÒA CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 82 /2017/HSST
Ngày 27 tháng 09 năm 2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP ĐÀ NẴNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Lê Phú Cường - Nghề nghiệp: Bí thư Đoàn Thanh niên CSHCM phường Thạch Thang

- Ông Lê Truyền Bình - Nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Thảo - Cán bộ Toà án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Thảo Nguyên - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 09 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 79/2017/HSST ngày 08 tháng 09 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2017/HSST-QĐ ngày 14 tháng 9 năm 2017 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn H - Sinh ngày 25 tháng 09 năm 1994 tại tỉnh Gia Lai - Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn X, xã K, huyện I, tỉnh Gia Lai - Trình độ học vấn: 12/12. Nghề nghiệp: Không. Con ông Nguyễn Văn H (còn sống) và bà Lê Thị Kh (còn sống); gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ hai.

Tiền án, tiền sự: Chưa

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 08/7/2017, ngày 05/9/2017 thay đổi biện pháp tạm giam bằng biện pháp bảo lĩnh, bị cáo đang tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

*Người bị hại:

- Ông Hà Văn T; sinh năm 1988- Trú tại: Thôn Y, xã Q, huyện L, TP Hà Nội (vắng mặt)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Võ Đình T; sinh năm 1994 - Nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Quảng Trị (hiện nay đang chấp hành án tại Trại giam Nghĩa An, Bộ Công an) (vắng mặt)

- Ông Mai Xuân T; sinh năm 1989 - Trú tại: Số 92b đường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai (vắng mặt)

- Ông Trịnh Trung K; sinh năm 1994 - Trú tại: 572/6 đường H, quận H, thành phố Đà Nẵng (có mặt)

- Ông Võ Hoàng Việt H; sinh năm 1994 - Trú tại: Số 49 đường C, phường N, quận H, thành phố Đà Nẵng (vắng mặt)

NHẬN THẤY

Bị cáo Nguyễn Văn H bị Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Qua nghiên cứu lịch sử nói chuyện trên Facebook, Nguyễn Văn H đã chiếm đoạt được tài khoản Facebook mang tên ‘Hà Chung’’ và biết anh Hà Văn T có nick name Facebook ‘Truong Van Ha’’ thường xuyên nói chuyện trên Facebook với em trai mình có nick name ‘‘Hà Chung’’ ở Nhật. Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 24/12/2015 H vào quán internet (không nhớ rõ địa chỉ) trên đường C, phường N, quận H, thành phố Đà Nẵng ; sử dụng mạng máy tính có kết nối Internet đăng nhập vào tài khoản Facebook ‘‘Hà Chung’’ giả mạo nói chuyện với anh T và bàn việc kinh doanh thẻ cào điện thoại ‘‘em mới kiếm được mối mua thẻ cào Việt Nam để chơi game, mỗi thẻ cào mệnh giá 100.000 đồng bên Nhật bán được 10USD, em định bàn với anh để mua gửi sang bán’’. Do tin tưởng người đang nói chuyện là em trai của mình nên anh T mua thẻ cào điện thoại gửi mã thẻ, seri thẻ cào qua cho Hải với tổng số tiền 6.600.000 đồng. Đến tối cùng ngày, anh T điện thoại nói chuyện với em mình thì mới biết đã bị lừa nên báo Công an.

Số thẻ cào điện thoại trên, trong đó 01 thẻ cào mệnh giá 100.000 đồng H cho người chơi game trong quán internet còn lại 22 thẻ cào H đem bán cho Võ Đình T, T đưa cho H tài khoản tên đăng nhập ‘‘dongtienao2015’’ với nick ‘‘hanoiusa’’ và mật khẩu đăng nhập mở tại trang Wed rikvip.com để H nạp số thẻ cào cho T. T sẽ thanh toán cho H 75% tổng giá trị thẻ (tức là H bán 6.500.000 đồng thẻ cào cho T và T đã đưa lại cho H 4.800.000 đồng).

* Tang vật thu giữ : 18 thẻ cào điện thoại Viettel (05 thẻ cào mệnh giá

500.000 đồng ; 10 thẻ cào mệnh giá 100.000 đồng ; 03 thẻ cào mệnh giá 200.000 đồng).

+ 24 tờ giấy A4 được in ra từ Facebook thể hiện nội dung nói chuyện giữa anh T và nick name ‘‘Hà Chung’’.

+ 01 tờ giấy thông tin 05 thẻ cào điện thoại Viettel.

Nguyễn Văn H đã nộp số tiền 6.600.000 đồng chiếm đoạt của anh T để khắc phục hậu quả.

Ngoài ra, Nguyễn Văn H còn khai nhận: H còn thực hiện hành vi chiếm đoạt số thẻ cào với ba lần khác mỗi lần 100.000 đồng nhưng không biết lai lịch, địa chỉ của những người bị hại, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra thông báo tìm bị hại nhưng chưa có kết quả khi nào xác định được sẽ tiếp tục điều tra xử lý.

Với nội dung trên, tại bản cáo trạng số 75/CT-VKS ngày 08/09/2017 Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng đã truy tố Nguyễn Văn H về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 điều 226b Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện VKS tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm tại bản cáo trạng; đồng thời đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 điều 226b; Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H mức án từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng.

Về trách nhiệm dân sự:

Tuyên trả cho ông Hà Văn T 6.600.000 đồng.

Tuyên tịch thu tiêu hủy 18 thẻ cào điện thoại Viettel (05 thẻ cào mệnh giá

500.000 đồng ; 10 thẻ cào mệnh giá 100.000 đồng ; 03 thẻ cào mệnh giá 200.000 đồng).

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hải Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Bị cáo Nguyễn Văn H đã thừa nhận khoảng 10 giờ 30 phút ngày 24/12/2015 H vào quán internet (không nhớ rõ địa chỉ) trên đường C, phường N, quận H, thành phố Đà Nẵng ; sử dụng mạng máy tính có kết nối Internet đăng nhập vào tài khoản Facebook ‘‘Hà Chung’’ - giả mạo nói chuyện với anh Hà Văn T và lừa bàn việc kinh doanh thẻ cào điện thoại với hình thức anh T mua thẻ cào điện thoại gửi mã thẻ, seri thẻ cào qua cho H với tổng số tiền 6.600.000 đồng. Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H đủ yếu tố cấu thành tội « Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản » theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 226b Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy : Chỉ vì muốn có tiền tiêu xài mà không phải bỏ sức lao động nên đã dẫn bị cáo vào con đường phạm tội. Hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội nên việc đưa bị cáo ra xét xử và tuyên một mức án tương xứng với hành vi của bị cáo là có căn cứ

Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thì thấy : Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay khai báo thành khẩn, nhận tội; ăn năn hối cải nhận thức được hành vi sai trái vi phạm pháp luật của mình, xét bị cáo nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự, lần đầu phạm tội; sau khi vụ việc bị phát hiện bị cáo đã tự nguyện khắc phục thiệt hại để trả cho người bị hại số tiền 6.600.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, p Khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự để xem xét khi lượng hình. Vì bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ có nhân thân tốt và có nơi cư trú ổn định nên HĐXX xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng điều 60 BLHS cho bị cáo hưởng mức án treo và ấn định thời gian thử thách cho bị cáo cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo.

Đối với Võ Đình T, Mai Xuân T qua điều tra xác định các đối tượng thực hiện hành vi giống Nguyễn Văn H nhưng độc lập không liên quan với nhau, không xác định được bị hại nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hải Châu không đề cập xử lý là có căn cứ.

Đối với Võ Hoàng Việt H không biết số tiền Nguyễn Văn H đưa là do chiếm đoạt của người khác mà có được nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hải Châu không đề cập xử lý là đúng pháp luật.

Đối với Trịnh Trung K cho Võ Đình T mượn tài khoản ngân hàng để chuyển tiền cho bị cáo Nguyễn Văn H , K không biết số tiền chuyển vào là do chiếm đoạt của người khác mà có được nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hải Châu không đề cập xử lý là đúng pháp luật.

HĐXX xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu tại phiên tòa hôm nay về căn cứ các điều luật áp dụng cũng như đề nghị mức hình phạt cho các bị cáo là có cơ sở nên HĐXX sẽ xem xét khi lượng hình.

Về trách nhiệm dân sự : Tại phiên tòa hôm nay, người bị hại anh Hà Văn T đã đi xuất khẩu lao động bên Nhật nên vắng mặt tại phiên tòa. Bị cáo Nguyễn Văn H đã tự nguyện nộp số tiền 6.600.000 đồng khắc phục hậu quả, HĐXX thấy đây là số tiền do bị cáo H lừa chiếm đoạt của người bị hại nên tuyên trả lại cho anh T là phù hợp với Điều 42 của Bộ luật hình sự, số tiền trên hiện thi hành án dân sự quận Hải Châu đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 8/9/2017

Về xử lý vật chứng : Áp dụng điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự, HĐXX xét thấy:

+ Đối với 18 thẻ cào điện thoại Viettel (05 thẻ cào mệnh giá 500.000 đồng ; 10 thẻ cào mệnh giá 100.000 đồng ; 03 thẻ cào mệnh giá 200.000 đồng), các thẻ này đã qua sử dụng và không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.

Án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đ bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên ;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”.

1. Áp dụng điểm b khoản 1 điều 226b; các điểm b, p khoản 1 điều 46 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Nguyễn Văn H 12tháng tù, nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm hôm nay.

Giao bị cáo Nguyễn Văn H về UBND xã K, huyện I, tỉnh Gia Lai để quản lý giáo dục trong thời gian thử thách án treo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo điều 69 Luật thi hành án hình sự.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điều 42 bộ luật hình sự

Trả cho ông Hà Văn T 6.600.000 đ ( số tiền trên hiện Chi cục Thi hành án quận Hải Châu đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 8/9/2017)

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự

Tịch thu tiêu hủy 18 thẻ cào điện thoại Viettel (05 thẻ cào mệnh giá 500.000 đồng ; 10 thẻ cào mệnh giá 100.000 đồng ; 03 thẻ cào mệnh giá 200.000 đồng). Số tang vật trên hiện Chi cục Thi hành án quận Hải Châu đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 8/9/2017

4. Án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu là 200.000đ.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, người có quyền và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người bị hại, người có quyền và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án

Trường hợp quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ