vanban.org

Bản án 819/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc B:

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ngọc B được ly hôn với ông Nguyễn Tấn Đ. 2. Về con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân gia đình sơ thẩm"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc B:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí Tòa án; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 819/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 07-11-2019
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Khắc Dương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Kim Hồng.

2. Bà Mai Thị Thanh Hương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Vũ Thùy Dung là Thư ký của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Qu n Thành ph Hồ Ch Minh tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Hạnh-Kiểm sát viên.

Trong ngày 07 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 181/2019/TLST-HNGĐ ngày 19/3/2019 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 238/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 9 năm 2019 và theo Quyết định hoãn phiên tòa số: 177/2019/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc B, sinh năm 1982.

Địa chỉ: đường T, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Tấn Đ, sinh năm 1978.

Địa chỉ: đường T, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. êu c u kh i ki n của nguyên đơn như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ngọc B và ông Nguyễn Tấn Đ là vợ chồng có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 79, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre cấp ngày 26/12/2007.

Trong thời gian chung sống vợ chồng bà xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, lối sống và cách ứng xử, cuộc sống vợ chồng không hòa hợp. Hai bên đã tự hòa giải nhiều lần nhưng không hàn gắn được, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên tháng 8/2018 bà đã nộp đơn ly hôn tại Tòa án nhân dân Quận 7 nhưng bà suy nghĩ cho cuộc sống hôn nhân vợ chồng và các con nên bà đã rút đơn ly hôn để cho ông Đ có cơ hội sửa chữa, vợ chồng đoàn tụ cùng nhau nuôi dạy các con. Tuy nhiên, từ khi bà rút đơn ly hôn đến nay thì hai bên cũng không thể hòa giải đoàn tụ gia đình và cũng không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa nên ông bà vẫn ly thân từ tháng 5/2018. Nay, bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Đ để ổn định cuộc sống.

- Về con chung: Bà B và ông Đ có 02 con chung tên Nguyễn Thị Bích T, sinh ngày 19/3/2003 và Nguyễn Thái B1, sinh ngày 22/7/2010. Hiện nay con gái Nguyễn Thị Bích T đang sống với ông Đ và cháu đã lựa chọn được sống với ông Đ nên bà đồng ý giao con Nguyễn Thị Bích T cho ông Đ trực tiếp nuôi dưỡng, bà B yêu cầu được trực tiếp nuôi con trai Nguyễn Thái B1 sau khi ly hôn.

Việc cấp dưỡng nuôi con: Bà B và ông Đ tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Bà B và ông Đ tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Bà B xác nhận không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bà B cam kết chỉ nộp đơn ly hôn tại Tòa án nhân dân Quận 7, không nộp đơn ly hôn tại Tòa án nào khác và việc ly hôn không nhằm trốn tránh nghĩa vụ khác.

2. Bị đơn-ông Nguy n T n Đ: Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án và vắng mặt tại phiên tòa.

3. Đại di n Vi n kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng, thời hạn giải quyết vụ án đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, nguyên đơn thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật, bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung, xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thảo luận về những vấn đề cần giải quyết trong vụ án và nhận định như sau:

Về pháp luật tố t ng dân s :

Bà B khởi kiện yêu cầu ly hôn, nuôi con đối với ông Đ; địa chỉ: đường Huỳnh Tấn P, phường P, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. Xét, quan hệ tranh chấp là tranh chấp về ly hôn, nuôi con khi ly hôn nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Khoản 1, Điều 28, Điểm a, Khoản 1, Điều 35, Điểm a, Khoản 1, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên toà nhưng vắng mặt không có lý do, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại Khoản 2, Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về pháp luật nội dung:

Xét yêu cầu của bà B về việc yêu cầu được ly hôn với ông Đ, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bà B và ông Đ có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 79, quyển số 01 ngày 26/12/2007 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre là đúng với quy định của pháp luật nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Nay, bà B khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn là phù hợp với quy định tại Khoản 1, Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Bà B trình bày trong thời gian chung sống vợ chồng bà xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, lối sống và cách ứng xử, cuộc sống vợ chồng không hòa hợp. Hai bên đã tự hòa giải nhiều lần nhưng không hàn gắn được, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên tháng 8/2018 bà đã nộp đơn ly hôn với chồng bà tại Tòa án nhân dân Quận 7 nhưng bà suy nghĩ cho cuộc sống hôn nhân vợ chồng và các con nên bà đã rút đơn ly hôn để cho ông Đ có cơ hội sửa chữa, vợ chồng đoàn tụ cùng nhau nuôi dạy các con. Tuy nhiên, từ khi bà rút đơn ly hôn đến nay thì hai bên cũng không thể hòa giải đoàn tụ gia đình và cũng không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa nên ông bà vẫn ly thân từ tháng 5/2018. Nay, bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Đ để ổn định cuộc sống.

Tòa án đã tiến hành xác minh đối với Hội Liên hiệp Phụ nữ phường P, Quận G để tham khảo nhưng kết quả không thể hiện việc mâu thuẫn của vợ chồng bà B và hiện nay bà B không sống cùng ông Đ. Ngoài ra, theo Quyết định đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự số 867/2018/QĐST-HNGĐ ngày 29/11/2018 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh đã thể hiện vợ chồng bà B và ông Đ từng xảy ra mâu thuẫn dẫn đến việc bà B đã từng nộp đơn khởi kiện về việc ly hôn nhưng bà đã rút đơn khởi kiện để vợ chồng hàn gắn tình cảm nhưng cũng không có kết quả và bà tiếp tục khởi kiện lại vụ án ly hôn với ông Đ. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã động viên, phân tích để vợ chồng bà B hàn gắn tình cảm, đoàn tụ gia đình nhưng bà B cương quyết giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông Đ để ổn định cuộc sống.

Đối với ông Đ, trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, ông Đ đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ, nhưng ông không đến Tòa giải quyết vụ án, ông cũng không có văn bản phản đối yêu cầu của bà B và không đưa ra giải pháp nào để cải thiện mối quan hệ vợ chồng, chứng tỏ ông cũng không quan tâm đến yêu cầu ly hôn của bà B và không có thiện chí hòa giải để đoàn tụ gia đình.

Như vậy, ông Đ đã không thực hiện nghĩa vụ chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự nên căn cứ vào Khoản 2, Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự thì trình bày của bà B được thừa nhận mà không cần phải chứng minh. Xét thấy, hôn nhân giữa bà B và ông Đ đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà B theo quy định tại Khoản 1, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Xét yêu cầu của bà B về việc yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung Nguyễn Thái B1, sinh ngày 22/7/2010 vào giao cho ông Đ được trực tiếp nuôi con chung Nguyễn Thị Bích T, sinh ngày 19/3/2003, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thì ông Đ và bà B có 02 con chung tên Nguyễn Thị Bích T, giới tính nữ, sinh ngày 19/3/2003 theo Giấy khai sinh ngày 24/3/2003 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre và Nguyễn Thái B1, giới tính nam, sinh ngày 22/7/2010 theo Giấy khai sinh số 157 ngày 29/7/2010 của Ủy ban nhân dân phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Căn cứ vào Khoản 3, Điều 208 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án đã tiến hành hỏi ý kiến của 02 trẻ, theo đó trẻ Nguyễn Thị Bích T đã trình bày nguyện vọng mong muốn được sống cùng với cha là ông Đ, còn trẻ Nguyễn Thái B1 đã trình bày nguyện vọng mong muốn được sống cùng với mẹ là bà B.

Xét thấy, ông Đ và bà B mỗi người trực tiếp nuôi một con chung là đảm bảo cho việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con và việc tiếp tục giao con chung Nguyễn Thị Bích T cho ông Đ trực tiếp nuôi và giao con chung Nguyễn Thái B1 cho bà B trực tiếp nuôi là phù hợp với nguyện vọng của các con, đảm bảo ổn định tâm lý và đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của các con, mặt khác ông Đ cũng không có văn bản phản đối yêu cầu của bà B. Do đó, yêu cầu về con chung của bà B sau khi ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng: Bà B trình bày do hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Về tài sản chung: Bà B trình bày do hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Về nợ chung: Bà B xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Án phí về tranh chấp hôn nhân và gia đình do nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1, Điều 28, Điểm a, Khoản 1, Điều 35, Điểm a, Khoản 1, Điều 39, Điều 91, Khoản 2, Điều 92, Điều 144, Điều 147, Khoản 3, Điều 208, Khoản 2, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Khoản 1, Điều 51, Khoản 1, Điều 53, Khoản 1, Điều 56, Điều 57, Điều 58, các Điều 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Luật Phí và lệ phí Tòa án năm 2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014,

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc B:

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ngọc B được ly hôn với ông Nguyễn Tấn Đ.

1.2. Về con chung:

- Giao con chung tên Nguyễn Thị Bích T, sinh ngày 19/3/2003 cho ông Đ được trực tiếp nuôi sau khi ly hôn.

- Giao con chung tên Nguyễn Thái B1, sinh ngày 22/7/2010 cho bà B được trực tiếp nuôi sau khi ly hôn.

Ông Đ, bà B có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.

Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì quyền, lợi ích hợp pháp của con, sau khi ly hôn các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

Về cấp dưỡng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

1.3. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

1.4. Về nợ chung: Bà B xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Án phí dân sự sơ thẩm về tranh chấp hôn nhân và gia đình: 300.000 (ba trăm nghìn) đồng do bà B phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2017/0026848 ngày 19/3/2019 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh, như vậy bà B đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Bà B, ông Đ có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014. Nơi nh n:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Tòa án nhân dân TP.HCM;

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Viện kiểm sát nhân dân Q. 7;

- Chi cục Thi hành án dân sự Q. 7;

- Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre;

- Các đương sự;

- Lưu: VT, hồ sơ, (TK. Dung).

Đ h c D ng THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Ký tên, ghi rõ họ tên)

(Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng d u) Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015 . (28)

:........................................................................................................................... ................................................................................................................................. (29)

Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày; Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày tuyên án.

Kể từ ngày Công ty TNHH Thương mại Xuất nhập khẩu CMT có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong số tiền còn thiếu nêu trên, thì hàng tháng Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu và xây dựng công trình (Tranimexco) còn phải trả tiền lãi trên số tiền chậm trả theo lãi suất là 1%/năm tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

Hướng dẫn sử dụng mẫu s 52-DS:

Mẫu bản án sơ thẩm kèm theo bản hướng dẫn này được soạn thảo theo tinh thần quy định tại Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự. Mẫu bản án sơ thẩm kèm theo hướng dẫn này được sử dụng cho tất cả các Toà án khi xét xử sơ thẩm các tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động.

Sau đây là những hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng mẫu bản án sơ thẩm kèm theo:

(1) Nếu là Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì ghi rõ tên Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Toà án nhân dân huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội); nếu là Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì ghi Toà án nhân dân tỉnh (thành phố) đó (ví dụ: Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam).

(2) Ô thứ nhất ghi số bản án, ô thứ hai ghi năm ra bản án, ô thứ ba ghi ký hiệu loại bản án (ví dụ: Nếu là bản án giải quyết tranh chấp về dân sự năm 2017 có số 100 thì ghi: “Số:100/2017/DS-ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình năm 2017 có số 108 thì ghi: “Số:108/2017/HNGĐ-ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về kinh doanh, thương mại năm 2017 có số 110 thì ghi: “Số:110/2017/KDTM-ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về lao động năm 2017 có số 115 thì ghi: “Số:115/2017/LĐ-ST”).

(3) Ghi ngày, tháng, năm tuyên án không phân biệt vụ án được xét xử sơ thẩm và kết thúc trong một ngày hay được xét xử sơ thẩm trong nhiều ngày.

(4) Ghi quan hệ tranh chấp mà Tòa án giải quyết: Cần xác định tranh chấp mà Tòa án thụ lý giải quyết được quy định tại Điều, khoản nào của Bộ luật tố tụng dân sự, để ghi vào phần trích yếu của bản án (ví dụ: Tranh chấp mà Tòa án thụ lý giải quyết là tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân được quy định tại khoản 1 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự thì ghi: “tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân”).

(5) Ghi như hướng dẫn tại điểm (1).

(6) Nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm ba người, thì chỉ ghi họ tên của Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà, bỏ dòng “Thẩm phán...”, đối với Hội thẩm nhân dân chỉ ghi họ tên của hai Hội thẩm nhân dân; nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có năm người, thì ghi họ tên của Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà, họ tên của Thẩm phán, họ tên của cả ba Hội thẩm nhân dân. Cần chú ý là không ghi chức vụ của Thẩm phán; chức vụ, nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân.

(7) Ghi họ tên của Thư ký phiên tòa và ghi rõ là Thư ký Tòa án hoặc Thẩm tra viên của Tòa án nào như hướng dẫn tại điểm (1).

(8) Nếu có Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên toà thì ghi như hướng dẫn tại điểm (1) song đổi các chữ “Toà án nhân dân” thành “Viện kiểm sát nhân dân”.

(9) Trường hợp vụ án được xét xử và kết thúc trong một ngày thì bỏ hai chữ “Trong các” (ví dụ: Ngày 15 tháng 7 năm 2017). Trường hợp vụ án được xét xử trong hai ngày thì ghi “Trong các ngày” (ví dụ: Trong các ngày 02, 03 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà liền nhau thì ghi: “Từ ngày đến ngày” (ví dụ: Từ ngày 06 đến ngày 10 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà không liền nhau thì ghi trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 07, 08 và ngày 15 tháng 3 năm 2017); nếu khác tháng mà liền nhau thì ghi từ ngày... tháng... đến ngày... tháng... (ví dụ: Từ ngày 31 tháng 05 đến ngày 02 tháng 6 năm 2017); nếu không liền nhau thì ghi các ngày của từng tháng (Ví dụ: Trong các ngày 30, 31 tháng 3 và các ngày 04, 05 tháng 4 năm 2017).

(10) Nếu xét xử kín thì thay cụm từ “công khai” bằng từ “kín”.

(11) Ô thứ nhất ghi số thụ lý, ô thứ hai ghi năm thụ lý và ô thứ ba nếu là tranh chấp về dân sự thì ghi “DS”; nếu là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thì ghi “HNGĐ”; nếu là tranh chấp về kinh doanh, thương mại thì ghi “KDTM”; nếu là tranh chấp về lao động thì ghi “LĐ” (ví dụ: số 18/2017/TLST-HNGĐ).

(12) Ghi như hướng dẫn tại điểm (4).

(13) Nguyên đơn là cá nhân thì ghi họ tên, địa chỉ cư trú (nếu là người chưa thành niên thì sau họ tên ghi ngày, tháng, năm sinh và họ tên người đại diện hợp pháp của người chưa thành niên). Nguyên đơn là cơ quan, tổ chức thì ghi tên cơ quan, tổ chức và địa chỉ của cơ quan, tổ chức đó.

(14) Chỉ ghi khi có người đại diện hợp pháp của nguyên đơn và ghi họ tên, địa chỉ cư trú; ghi rõ là người đại diện theo pháp luật hay là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn; nếu là người đại diện theo pháp luật thì cần ghi chú trong ngoặc đơn quan hệ giữa người đó với nguyên đơn; nếu là người đại diện theo uỷ quyền thì cần ghi chú trong ngoặc đơn: “văn bản uỷ quyền ngày... tháng... năm...”.

Ví dụ 1: Ông Nguyễn Văn A trú tại... là người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn (Giám đốc Công ty TNHH Thắng Lợi).

Ví dụ 2: Bà Lê Thị B trú tại... là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn (Văn bản uỷ quyền ngày... tháng... năm...).

(15) Chỉ ghi khi có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Ghi họ tên, địa chỉ cư trú (nếu là Luật sư thì ghi là Luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào); nếu có nhiều nguyên đơn thì ghi cụ thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn nào.

(16) và (19) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (13).

(17) và (20) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (14).

(18) và (21) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (15).

(22) Ghi họ tên, địa chỉ cư trú (nếu là người chưa thành niên thì sau họ tên ghi ngày, tháng, năm sinh và họ tên người đại diện hợp pháp của người chưa thành niên).

(23) Ghi họ tên, chức danh, địa chỉ nơi làm việc (nếu không có nơi làm việc thì ghi địa chỉ cư trú).

(24) Ghi họ tên, địa chỉ nơi làm việc (nếu không có nơi làm việc thì ghi địa chỉ cư trú).

(25) Trong phần này ghi rõ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, của cơ quan, tổ chức, cá nhân; yêu cầu phản tố, đề nghị của bị đơn; yêu cầu độc lập, đề nghị của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; ý kiến của Viện kiểm sát; ghi ngắn gọn, đầy đủ các tài liệu, chứng cứ, tình tiết của vụ án; ghi rõ các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh, các tình tiết mà các bên đã thống nhất, không thống nhất; đối với các tình tiết của vụ án mà các bên không thống nhất thì phải ghi rõ lý lẽ, lập luận của từng bên đương sự.

(26) Ghi nhận định của Tòa án về những vấn đề cần phải giải quyết trong vụ án (về áp dụng pháp luật tố tụng và pháp luật nội dung). Tòa án phải căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa để phân tích, đánh giá, nhận định đầy đủ, khách quan về chứng cứ và những tình tiết của vụ án; phân tích, viện dẫn những căn cứ pháp luật, án lệ (nếu có) để chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu, đề nghị của đương sự; yêu cầu, đề nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác (nếu có); yêu cầu, đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát (nếu có); giải quyết các vấn đề khác có liên quan. Nếu vụ án thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 của Bộ luật tố tụng dân sự thì tùy từng trường hợp mà Tòa án phân tích, lập luận về việc áp dụng tập quán, tương tự pháp luật, nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ hoặc lẽ công bằng.

Trong phần này, các đoạn văn được đánh số thứ tự trong dấu [ ].

(27) Tùy từng trường hợp mà ghi rõ các căn cứ pháp luật để ra quyết định.

(28) Ghi các quyết định của Tòa án về từng vấn đề phải giải quyết trong vụ án, về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo đối với bản án; trường hợp có quyết định phải thi hành ngay thì phải ghi rõ quyết định đó. Đối với trường hợp xét xử sơ thẩm lại vụ án mà bản án, quyết định đã bị hủy một phần hoặc toàn bộ theo quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm thì ghi vấn đề tài sản, nghĩa vụ đã được thi hành (nếu có) theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng bị hủy; trường hợp có quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 482 của Bộ luật tố tụng dân sự thì phải ghi rõ nội dung về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án.

(29) Phần cuối cùng của bản án, đối với bản án được thông qua tại phòng nghị án thì phải có đầy đủ chữ ký, ghi rõ họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử và đóng dấu (bản án này phải lưu vào hồ sơ vụ án); đối với bản án để gửi cho các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện và Viện kiểm sát thì ghi như sau: Nơi nh n:

Cỡ chữ