vanban.org

Bản án 813/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Nguyễn Như K đối với bà Phan Thị D.

Giấy chứng nhận kết hôn số 24 do Ủy ban nhân dân phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 29/04/2004 không còn giá trị pháp lý kể từ thời điểm bản án có hiệu lực pháp luật. Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Phan Ánh T, sinh ngày 10/11/2004 (đã trưởng thành) và Nguyễn Phan Minh S, sinh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Nguyễn Như K đối với bà Phan Thị D.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH TÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 813/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 19/06/2023
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Nhất Bình

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Bùi Diệu Huệ.

2. Bà Lê Thị Tý.

- Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Võ Minh Tiện – Là thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thu Thương Thương – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 22/2023/TLST-HNGĐ, ngày 06 tháng 01 năm 2023, về việc “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 138/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 09 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa sơ thẩm số 126/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 30 tháng 05 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: ông Nguyễn Như K, sinh năm: 1982;

Thường trú: 394/8 M, phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh;

Tạm trú: 22 N1B, phường P, Quận L, Thành phố Hồ Chí Minh; (Có đơn xét xử vắng mặt).

Bị đơn: Bà Phan Thị D, sinh năm: 1978;

Thường trú: 394/8 M, phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh;

Tạm trú: 42/4/3 đường S, phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn xin ly hôn của ông Nguyễn Như K và bản tự khai của đương sự tại Tòa án cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ thì nội dung vụ án được xác định như sau:

Nguyên đơn ông Nguyễn Như K trình bày: ông và bà Phan Thị D kết hôn với nhau theo giấy chứng nhận kết hôn số 24 do Ủy ban nhân dân phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 29/04/2004. Cuộc sống vợ chồng ông hạnh phúc được một thời gian. Tuy nhiên sau đó giữa hai vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên gây gỗ và không thống nhất được cách giải quyết. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu do hai vợ chồng bất đồng quan điểm kéo dài trong nhiều năm, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống, tình cảm cả hai không hòa hợp. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2017 cho đến nay, mỗi người có cuộc sống riêng.

Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không hạnh phúc nên ông yêu cầu được ly hôn với bà Phan Thị D.

+Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Phan Ánh T, sinh ngày 10/11/2004 (đã trưởng thành) và Nguyễn Phan Minh S, sinh ngày 29/10/2006. Ông yêu cầu giao con chung là trẻ Nguyễn Phan Minh S (hiện nay đang sống cùng với bà D) cho bà D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông sẽ cấp dưỡng mỗi tháng 3.000.000 đồng.

+Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Bị đơn bà Phan Thị D: bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không đến Tòa án, vắng mặt không rõ lý do và không có văn bản ghi nhận ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn gửi cho Tòa án.

Tại phiên tòa hôm nay, ông Nguyễn Như K có đơn xin vắng mặt, bà Phan Thị D vắng mặt không rõ lý do.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến và kết luận: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về thẩm quyền, thủ tục tố tụng. Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ và đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung, đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Như K.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: ông Nguyễn Như K và bà Phan Thị D có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 24 do Ủy ban nhân dân phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 29/04/2004, ông Nguyễn Như K có yêu cầu xin ly hôn với bà Phan Thị D đây là tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Bị đơn là bà Phan Thị D cư trú tại quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về thủ tục tố tụng: nguyên đơn là ông Nguyễn Như K có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn là bà Phan Thị D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ theo quy định của pháp luật, nhưng bà Phan Thị D vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ vào quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ Luật

-2-Tố tụng Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Về nội dung: căn cứ giấy chứng nhận kết hôn số 24 do Ủy ban nhân dân phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 29/04/2004, cùng lời khai của ông Nguyễn Như K về việc các đương sự tự nguyện kết hôn với nhau, nên có căn cứ xác định hôn nhân giữa ông Nguyễn Như K và bà Phan Thị D là hôn nhân hợp pháp.

Ông Nguyễn Như K có yêu cầu ly hôn với bà Phan Thị D vì giữa ông và bà D trong quá trình sống chung không hạnh phúc. Nguyên nhân mâu thuẫn là do hai vợ chồng bất đồng quan điểm kéo dài trong nhiều năm, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống, tình cảm cả hai không hòa hợp. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2017 cho đến nay, mỗi người có cuộc sống riêng, không còn quan tâm đến nhau. Đối với bà Phan Thị D, Tòa án đã nhiều lần triệu tập bà đến Tòa để làm việc nhưng bà không đến Tòa và không có ý kiến gì về yêu cầu của ông Nguyễn Như K.

Như vậy, có cơ sở để xác định mâu thuẫn vợ chồng trong quan hệ hôn nhân giữa ông Nguyễn Như K và bà Phan Thị D là trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, đồng thời bà D cũng không có ý kiến gì về yêu cầu và những nội dung mà ông K đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, nên việc ông K yêu cầu được ly hôn với bà D là có căn cứ chấp nhận.

- Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Phan Ánh T, sinh ngày 10/11/2004 (đã trưởng thành) và Nguyễn Phan Minh S, sinh ngày 29/10/2006. Theo ông K thì hiện nay cháu Sang đang sống cùng với bà D, môi trường sống, học tập đã ổn định. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu của ông K tiếp tục giao cháu Nguyễn Phan Minh S cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc.

Về cấp dưỡng nuôi con: ông K tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung là trẻ Nguyễn Phan Minh S mỗi tháng 3.000.000 đồng.

- Về tài sản chung và nợ chung: ông K khai không có.

- Về án phí sơ thẩm: ông Nguyễn Như K phải chịu theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Đề nghị của đại diệnViện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân là phù hợp với quy định của pháp luật nên thống nhất

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 21, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, khoản 2 Điều 92, khoản 4 Điều 147, khoản 1, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

-3-

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Nguyễn Như K đối với bà Phan Thị D.

Giấy chứng nhận kết hôn số 24 do Ủy ban nhân dân phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 29/04/2004 không còn giá trị pháp lý kể từ thời điểm bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Phan Ánh T, sinh ngày 10/11/2004 (đã trưởng thành) và Nguyễn Phan Minh S, sinh ngày 29/10/2006. Giao cháu Nguyễn Phan Minh S cho bà Phan Thị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: ông Nguyễn Như K có nghĩa vụ cấp dưỡng cho trẻ Nguyễn Phan Minh S mỗi tháng 3.000.000 đồng (ba triệu đồng). Việc cấp dưỡng thực hiện vào ngày 01 dương lịch hàng tháng, do hai bên tự thực hiện hoặc thi hành tại cơ quan thi hành án có thẩm quyền. Bắt đầu từ tháng 07/2023 cho đến khi trẻ Nguyễn Phan Minh S đủ 18 tuổi.

Kể từ ngày bà Phan Thị D có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Nguyễn Như K chưa thi hành khoản tiền nêu trên thì hàng tháng ông Nguyễn Như K phải trả lãi đối với số tiền chậm thi hành theo quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó. Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.

4. Về tài sản chung và nợ chung: ông Nguyễn Như K khai không có.

5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) ông Nguyễn Như K phải chịu, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) ông K đã nộp theo biên lai thu số 0010519 ngày 05/01/2023 của Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Nguyễn Như K đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

6. Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Viện Kiểm sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự,

-4-người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ