- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn giữa chị Nguyễn Thị B và anh Nguyễn Tuân Đ"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị B và anh Nguyễn Tuân Đ.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 812/2017/HNGĐ-ST Ngày: 15 - 12 - 2017 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vân
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Doãn Văn Sáng
2. Ông Nguyễn Văn Chương
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trung Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đình Hiến - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 12 năm 2017 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 739/2017/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 11 năm 2017 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 404/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 11 năm 2017 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị B, sinh năm 1994; Đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Z, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng; Nơi ở hiện nay: Thôn X, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Tuân Đ, sinh năm 1992; Đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Z, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng; Hiện đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam Xuân Nguyên; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 23 tháng 10 năm 2017 cùng các lời khai tại Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, chị Nguyễn Thị B (nguyên đơn) trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Tuân Đ kết hôn với nhau trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện, được tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận kết hôn số 21 ngày 14 tháng 3 năm 2012. Quá trình chung sống, vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do tính cách vợ chồng không hòa hợp, bất đồng trong quan điểm sống và lối sống, anh Đ nghiện ma túy không chăm lo cuộc sống gia đình. Đến năm 2016 anh Đ đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với mức hình phạt 08 năm tù và hiện đang chấp hành hình phạt tù tại Trại giam Xuân Nguyên. Chán nản chị đã về nhà mẹ đẻ tại thôn X, xã L ở từ cuối năm 2016 cho đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh Đ không còn, hạnh phúc hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng và sâu sắc đến mức không có khả năng đoàn tụ nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Tuân Đ.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị B và anh Nguyễn Tuân Đ có ba con chung tên Nguyễn Tuân Q sinh ngày 09 tháng 6 năm 2010, Nguyễn Thị M sinh ngày 15 tháng 6 năm 2012, Nguyễn Tuân C sinh ngày 03 tháng 6 năm 2015. Khi ly hôn chị B đề nghị giao ba con chung cho chị nuôi. Về cấp dưỡng nuôi con chung, chị B đề nghị để chị và anh Đ tự thỏa thuận giao nhận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị B trình bày chị và anh Nguyễn Tuân Đ có tài sản chung nhưng không đề nghị Tòa án giải quyết trong vụ án này.
Chị Nguyễn Thị B đã nộp cho Tòa án: Bản sao Giấy chứng nhận kết hôn số 21 ngày 14 tháng 3 năm 2012; Bản sao sổ hộ khẩu; Bản sao chứng minh nhân dân; Bản sao giấy khai sinh của con chung. Anh Nguyễn Tuân Đ đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và kết quả xác minh số 810/TB-TA ngày 30/11/2017 và anh Đ không có ý kiến gì đối với các tài liệu, chứng cứ có trong Hồ sơ vụ án.
Quá trình Tòa án giải quyết vụ án chị Nguyễn Thị B vẫn giữ nguyên yêu cầu như đã trình bày trong đơn khởi kiện, bản tự khai và không bổ sung gì thêm.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 16 tháng 11 năm 2017 và các lời khai khác, anh Nguyễn Tuân Đ (bị đơn) trình bày:
Về hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị B kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng vào ngày 14 tháng 3 năm 2012. Sau cưới vợ chồng sinh sống tại thôn Z, xã L. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc. Đến ngày 11/3/2016 anh bị bắt về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và đang phải chấp hành hình phạt 08 năm tù tại Trại giam Xuân Nguyên theo Bản án của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên. Nay chị B xin ly hôn, anh Đ xác định tình cảm không còn, hôn nhân không hạnh phúc nên anh đồng ý ly hôn.
Về con chung: Quá trình chung sống anh và chị B có 03 con chung như chị B trình bày là đúng. Trường hợp ly hôn, anh có nguyện vọng nuôi cả 03 con. Về cấp dưỡng nuôi con, anh Đ đề nghị để anh và chị B tự thỏa thuận giao nhận cho nhau không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Anh trình bày anh và chị B không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong vụ án này: Lời trình bày của chị Nguyễn Thị B về quan hệ hôn nhân, con chung và lý do đề nghị Tòa án giải quyết các quan hệ đó phù hợp với các chứng cứ, tài liệu mà chị giao nộp, phù hợp với tài liệu do Tòa án thu thập được, anh Đ cũng thừa nhận và đồng ý ly hôn nên đó là sự thật và thuộc trường hợp không phải chứng minh. Về việc nuôi con khi ly hôn đang có tranh chấp cần phải chứng minh. Quan hệ tài sản, công nợ chung phát sinh từ quan hệ hôn nhân, chị B và anh Đ không yêu cầu giải quyết nên không đặt vấn đề phải chứng minh. Chị B và anh Đ đã có lời khai của mình thể hiện các quan điểm về việc giải quyết toàn bộ nội dụng của vụ án, Tòa án căn cứ vào quy định của pháp luật để giải quyết.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật và về việc giải quyết vụ án như sau: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; Nguyên đơn và bị đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; Đề nghị áp dụng Điều 28, Điều 92, Điều 147, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án giải quyết cho chị Nguyễn Thị B và anh Nguyễn Tuân Đ được ly hôn. Về con chung: Chị B và anh Đ có ba con chung tên Nguyễn Tuân Q sinh ngày 09 tháng 6 năm 2010, Nguyễn Thị M sinh ngày 15 tháng 6 năm 2012, Nguyễn Tuân C sinh ngày 03 tháng 6 năm 2015. Khi ly hôn, chị B và anh Đ đều xin được nuôi cả ba con chung, nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung tự thỏa thuận giao nhận cho nhau không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và Gia đình xử giao cho chị Nguyễn Thị B được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cả ba con chung vì hiện nay anh Đ đang phải chấp hành hình phạt tù. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung để tự thỏa thuận giao nhận cho nhau. Về tài sản chung: Chị B và anh Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Kiểm sát viên không đề cập giải quyết trong vụ án này. Chị Nguyễn Thị B phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đây là vụ án Ly hôn, tranh chấp về nuôi con quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Chị B và anh Đ được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa, đã được đảm bảo thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình trong quá trình giải quyết vụ án theo quy định pháp luật. Chị B và anh Đ vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt; Căn cứ khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị B và anh Đ.
Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị B và anh Nguyễn Tuân Đ được xác lập vào năm 2012 là hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tình cách vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, lối sống và hiện nay không còn tồn tại cuộc sống chung, không còn tình cảm vợ chồng, hôn nhân giữa các bên đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn sâu sắc đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, hai bên sống ly thân đã lâu không còn khả năng đoàn tụ vợ chồng nên chị Nguyễn Thị B xin ly hôn với anh Nguyễn Tuân Đ. Vì vậy, cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị B với anh Nguyễn Tuân Đ.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị B và anh Nguyễn Tuân Đ có ba con chung tên Nguyễn Tuân Q sinh ngày 09 tháng 6 năm 2010, Nguyễn Thị M sinh ngày 15 tháng 6 năm 2012, Nguyễn Tuân C sinh ngày 03 tháng 6 năm 2015. Khi ly hôn, chị B và anh Đ đều xin nuôi cả ba con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung để hai bên tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, các con chung đều đang khỏe mạnh, con tên Q có nguyện vọng ở với mẹ, chị B có điều kiện nuôi con tốt, anh Đ hiện đang chấp hành hình phạt tù không có điều kiện để trực tiếp nuôi con. Để đảm bảo cho ba con chung có cuộc sống ổn định, đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp cho con chung nên cần áp dụng Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 giao cả ba con chung cho chị Nguyễn Thị B tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, chị B và anh Đ tự thỏa thuận giao nhận cho nhau không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị B và anh Nguyễn Tuân Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, chị Nguyễn Thị B phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 147, Khoản 1 Điều 228, 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Áp dụng Khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Xử:
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị B và anh Nguyễn Tuân Đ.
2. Về nuôi con chung: Giao ba con chung tên Nguyễn Tuân Q sinh ngày 09 tháng 6 năm 2010, Nguyễn Thị M sinh ngày 15 tháng 6 năm 2012, Nguyễn Tuân C sinh ngày 03 tháng 6 năm 2015 cho chị Nguyễn Thị B trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi từng con chung đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị B và anh Nguyễn Tuân Đ tự thỏa thuận giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung khi ly hôn, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị B và anh Nguyễn Tuân Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị B phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị B đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng tại Biên lai số 0005953 ngày 10 tháng 11 năm 2017; Chị Nguyễn Thị B đã nộp đủ án phí.
Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị B, anh Nguyễn Tuân Đ được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TANDTP Hải Phòng; - VKSND huyện Thuỷ Nguyên; - Chi cục THADS huyện Thuỷ Nguyên; - UBND xã Liên Khê, huyện Thủy Nguyên; - Đương sự; - Lưu:VT, hồ sơ vụ án. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Vân |