- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Thanh H - "Giết người" - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Các quyết định khác của bản án sơ thẩm nêu trên đã có hiệu lực pháp luật.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 811/2022/HS-PT Ngày 15-11-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Tất Nam;
Các Thẩm phán: bà Phan Thị Vân Hương;
ông Hồ Sỹ Hưng.
- Thư ký phiên toà: bà Vũ Thị Nguyệt - Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: bà Trần Thị Thanh Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 537/2022/TLHS-PT ngày 17 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo Vũ Thanh H, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án số 149/2022/HSST ngày 18-5-2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
- Bị cáo kháng cáo:
Vũ Thanh H sinh năm 1984; trú tại: nhà số C, khu B, tổ 47, phường Q, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị T; có vợ là Nguyễn Thị Thu T sinh năm 1988 (đã chết) và 05 con; tiền án, tiền sự: không; về nhân thân: ngày 28-4-2011, bị Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây xử phạt 5.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”; bị bắt giam ngày 16-02-2021; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Hoàng Ngọc Thanh B - Văn phòng luật sư Đ, Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội; có mặt.
- Người bị hại: chị Nguyễn Thị Thu T sinh năm 1988 (đã chết).
- Người đại diện hợp pháp bị hại: ông Nguyễn Minh C sinh năm 1952 (bố đẻ nạn nhân); trú tại: nhà số 2, ngõ L, phường L, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Năm 2015, Vũ Thanh H có quan hệ tình cảm với chị Nguyễn Thị Thu T và có con chung đặt tên theo họ mẹ là cháu Nguyễn Kiều Khánh H1 (sinh ngày 05-8-2015). Đến năm 2018, H và chị T đăng ký kết hôn, cùng chung sống tại nhà H và có thêm 02 người con chung là cháu Vũ Khánh N1 (sinh ngày 16-9-2018) và cháu Vũ Thanh N2 (sinh ngày 31-3-2020). Quá trình chung sống đến năm 2020, H và chị T phát sinh mâu thuẫn, chị T thường xuyên đòi ly hôn nhưng H không đồng ý.
Khoảng 10 giờ ngày 16-02-2021, H đang nấu cơm ở bếp thì nghe thấy tiếng cháu N1 khóc trong phòng khách, H chạy lên xem, thấy má bên phải cháu N1 bị tấy đỏ. H nói với cháu H1: “Đừng bắt nạt em nữa’’ thì chị T nói: “Tại con N1 cứ lanh chanh’’. Sau đó, giữa H và chị T xảy ra cãi nhau. Chị T đòi ly hôn và đưa cháu H1, cháu N2 về nhà bố mẹ đẻ, còn cháu N1 để cho H nuôi với lý do H bênh cháu N1, không yêu thương cháu H1. Do bực tức về thái độ của chị T nên H nảy sinh ý định đánh chém chị T. Khoảng 11 giờ 45 phút cùng ngày, sau khi ăn cơm xong, H dọn mâm bát xuống bếp rồi vào phòng ngủ lấy 01 con dao (loại dao mèo dài 46,5 cm, lưỡi dao bằng kim loại, dài 32,5 cm, cán gỗ dài 14 cm) để ở dưới gầm bàn uống nước rồi đi đến chỗ chị T đang ngồi bế cháu N2 tại ghế phòng khách. Thấy H cầm dao đi đến chỗ mình, chị T đặt cháu N2 xuống ghế. H đi đến trước mặt chị T tay phải cầm dao giơ lên chỉ về phía chị T và nói: “Mày đã biết tội của mày chưa”. Nói xong, H vung dao chém liên tiếp 02 nhát trúng vào đầu chị T. Thấy vậy, cháu H1 lao vào ôm chị T để H không chém tiếp thì H dùng tay trái túm tay cháu H1 kéo ra, còn tay phải cầm dao chém tiếp 01 nhát nữa về phía chị T. Chị T giơ tay trái lên đỡ thì bị chém trúng cổ tay. Chém xong, H đặt dao xuống ghế rồi dùng 02 tay kéo cháu H1 ra khỏi người của chị T. Chị T vùng dậy bỏ chạy thì bị H cầm dao chém tiếp 01 nhát trúng vào vùng đầu, 01 nhát trúng vào bàn tay trái. Khi chị T bỏ chạy ra ngoài ngõ thì H cầm dao đuổi theo đến trước cửa nhà của anh Lê Xuân H2 (ở đối diện cửa nhà H) thì chị T bị vấp ngã nằm xuống mặt đường. H đi đến dùng tay trái giật tay chị T đang che mặt, dùng chân trái đạp vào bụng chị T, tay phải H cầm dao chém liên tiếp nhiều nhát vào vùng đầu, mặt, cổ, tay của chị T. Khi thấy chị T nằm bất động, chảy nhiều máu nên H cầm dao đi vào nhà. Một lúc sau nghe thấy tiếng nói to ở ngoài ngõ nên H lại cầm dao đi ra thấy anh Vũ Hoàng A (là hàng xóm của H) đứng gần chỗ chị T. H đi đến giơ dao chỉ vào mặt anh Hoàng A nói: “Cút ra chỗ khác, không phải việc của mày” rồi cầm dao chém liên tiếp thêm nhiều nhát vào vùng cổ, ngực của chị T làm chị Nguyễn Thị Thu T bị tử vong ngay tại hiện trường. Sau đó, H đi vào nhà và vứt dao xuống sàn phòng ngủ.
Ngay sau khi tiếp nhận tin báo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hà Nội đã phối hợp với các cơ quan chức năng tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm pháp y tử thi, kết quả như sau:
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường hồi 13h30 phút ngày 16-02-2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hà Nội, xác định:
“... Nơi xảy ra sự việc tại nhà Vũ Thanh H ở số 14, khu B, thuộc tổ 8, phường Q, thị xã Sơn Tây, Hà Nội. Nhà có diện tích khoảng 145 m2, quay hướng Tây Nam, phía Tây Nam giáp đường ngõ, đối diện qua đường là nhà anh Phạm K, phía Bắc giáp nhà bà Nguyễn Y, phía Đông Bắc giáp khu dân cư, phía Đông Nam giáp nhà bà Diệp H. Nhà được xây 03 tầng, tầng 1 là phòng khách và phòng ngủ. Từ nhà mở ra đường ngõ có cửa cuốn điện kích thước (3,8x3,1) m, khi khám nghiệm cửa ở tình trạng mở. Từ đường ngõ nhìn vào, phía trước là hè, thẳng hè vào là phòng khách, phía bên phải hè là phòng ngủ. Từ hè mở vào phòng khách có cửa bằng gỗ, kính đóng mở vào trong kích thước (2,8x2,3) m. Phòng khách có kích thước (4,7x3,5) m trong phòng khách được bố trí: thẳng cửa vào hè kê bàn ghế gỗ da màu vàng, sát góc trong bên trái là cầu thang lối dẫn lên các tầng trên, sàn phòng có trải thảm màu đỏ, sát tường phải kê ghế da kích thước (1,66x0,94) m cao 43 cm và 01 ghế kích thước (1,8x0,93) m, cao 43 cm được kê hình chữ L. Trên mặt ghế sát tường phải, cách mép trong ghế 31 cm, cách tựa ghế 5 cm có đám chất màu nâu đỏ dạng đọng, quệt, bắn trên diện (54x27) cm, lẫn trong đám này có một số sợi tóc, toàn bộ mặt ghế có rải rác một số chất màu nâu đỏ dạng quệt mờ nhạt, có dạng bắn. Cách cửa ra vào 2,2 m, cách tường phải 1,56 m có kê bàn gỗ mặt kính kích thước (1,2x0,6) m, cao 45 cm, trên mặt bàn có ấm chén, cốc bát để lộn xộn và chiếc điện thoại hiệu Iphone, trên mặt bàn rải rác có một số vết chất màu nâu đỏ dạng nhỏ giọt, bắn. Phía dưới gầm bàn này có đám chất màu nâu đỏ dạng đọng quệt trên diện (0,7x0,6) m rải rác ra sàn phòng, phía dưới bàn sát bên phải bàn có ấm tích bị đổ và một số gói trà lipton chưa sử dụng. Trên sàn phòng rải rác có một số vết chất màu nâu đỏ dạng quệt, nhỏ giọt, bắn mờ nhạt trên diện (4,7x1,7) m. Trên sàn phòng, cách tường trước 1,6 m, sát tường trái có 01 phần ngón tay người.
Phòng ngủ ở bên phải nhà được chia làm hai gian, gian phía ngoài có kê bộ bàn ghế gỗ. Trên mặt bàn có vỏ dao bằng gỗ dài 36 cm, bản rộng nhất 07 cm, mặt ngoài vỏ dao có quấn băng dính màu vàng. Trên sàn phòng, nhìn từ ngoài cửa vào, cách tường trái 0,8 m, cách tường sau 0,9 m có 01 dao nhọn một lưỡi sắc, chuôi bằng gỗ, dao dài 46,5 cm, phần lưỡi dài 32,5 cm, bản rộng nhất 5,5 cm, chuôi dao có chu vi 12 cm, trên dao bám dính chất màu nâu đỏ. Từ cửa nhà ra ngõ về phía Tây có các vết chất màu đỏ dạng bắn, nhỏ giọt rải rác không liên tục dài 11 m, cuối vết này có đám chất màu nâu đỏ dạng đọng, chảy, bắn trên diện (3,1x2,6) m. Trên tường nhà và cánh cửa của nhà anh Lê Xuân Tùng, thẳng vị trí đám chất màu nâu đỏ này lên có đám chất màu nâu đỏ dạng bắn chảy trên diện (2,2x1,8) m.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hà Nội đã tiến hành dựng lại hiện trường theo lời khai của anh Lê Xuân H2 (là hàng xóm ở đối diện với nhà của H), xác định như sau: tại vị trí sát góc phía Đông nhà anh Lê Xuân H2 là vị trí Vũ Thanh H dùng dao chém nhiều nhát vào người chị Nguyễn Thị Thu T làm chị T nằm gục tại chỗ”.
Vật chứng vụ án: tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ vật chứng gồm: 01 dao nhọn, lưỡi sắc, 01 vỏ dao; 01 áo phông cộc tay màu xanh có in chữ VAN HEUSN, 01 quần soóc màu xanh, ở đai quần có chữ GUCCI, 01 chiếc ví giả da màu nâu, mặt trước có chữ GUESS, trong ví có 294.000 đồng, 01 căn cước công dân mang tên Vũ Thanh H, 01 giấy phép lái xe mang tên Vũ Thanh H, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 029333, biển kiểm soát 29U1-360.94, 01 thẻ N1 hàng BIDV mang tên Vũ Thanh H, 01 điện thoại Iphone5 màu đen, Imei 013330002505309 (của Vũ Thanh H); 01 camera an ninh vỏ màu trắng, có 02 ăng ten thu sóng, trên vỏ có chữ YOOSEE 1080P, số ID: 19799258; 01 camera an ninh vỏ màu trắng, có 03 ăng ten thu sóng, trên vỏ có chữ YOOSEE FHD, số ID 19941712; 01 camera an ninh vỏ màu trắng, có 03 ăng ten thu sóng, trên vỏ có chữ YOOSEE FHD, số ID 19950508; 01 camera an ninh vỏ màu trắng, có 03 ăng ten thu sóng, trên vỏ có chữ YOOSEE FHD, số ID: 19941362 và 01 điện thoại di dộng Iphone 6s màu vàng, Imei 35576071328485 (là điện thoại của chị Nguyễn Thị Thu T).
Tại bản giám định pháp y số 2118/PC09-PY ngày 16-3-2021, Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội đối với tử thi của chị Nguyễn Thị Thu T, kết luận:
“... II. Phần giám định:
1. Khám ngoài: tử thi nữ giới, chiều dài 1,58 m, thể tạng trung bình. Nạn nhân mặc áo phông dài tay màu xanh. Vùng cổ áo và ngực áo có các vết rách vải gọn trên diện (13,5x9) cm. Mặt sau ống tay áo bên phải, trên cổ tay áo 11,8 cm có vết rách vải gọn dài 5,5 cm. Mặt sau ống tay áo bên trái, trên cổ tay áo 02 cm có vết rách vải gọn dài 0,8 cm. Quần dài màu xanh. Áo ngực màu đen.
- Đầu, mặt, cổ: vùng đỉnh đầu trái có 02 vết thương rách da như sau: vết 1 có kích thước (9,5x0,5) cm, vết trên vành tai trái 8 cm, bờ mép sắc gọn, hai đầu gọn, đáy cắt vào xương sọ. Vết 2: có kích thước (6,5x0,5) cm, vết trên vành tai trái 12,5 cm, bờ mép sắc gọn, hai đầu gọn, đáy cắt vào xương sọ. Vùng trán đỉnh phải, cách giữa 1 cm, có vết thương rách da kích thước (07x01) cm, bờ mép sắc gọn, hai đầu gọn, đáy cắt vào xương sọ. Vùng thái dương phải có 04 vết thương rách da từ trước ra sau như sau: vết 1: có kích thước (3,4x0,5) cm, vết cách giữa 5 cm, trên đuôi cung lông mày phải 03 cm, bờ mép sắc gọn, hai đầu gọn, đáy cắt vào xương sọ, tại cạnh trên vết thương, cách đầu trước vết thương 1 cm, có vết rách da phụ dài 0,5 cm. Vết 2: sát dưới vết 1, có kích thước (09x01) cm, bờ mép sắc gọn, hai đầu gọn, đáy cắt vào xương sọ, tại cạnh dưới vết thương, cách đầu sau vết thương 0,5 cm, có vết rách da phụ dài 1 cm. Vết 3: dưới vết 2 ra sau 01 cm, có kích thước (08x1,2) cm, bờ mép sắc gọn, gọn, đáy cắt vào xương sọ. Vết 4: dưới vết 3 là 1,3 cm, có kích thước (07x0,8) cm, bờ mép sắc gọn, hai đầu gọn, đáy cắt vào xương sọ. Vùng chẩm có vết thương rách da hai đầu kích thước (10x0,8) cm, vết sát chân tóc gáy, bờ mép sắc gọn, hai đầu gọn. Vành tai trên bên phải và thái dương phải có vết thương kích thước (04x0,5) cm, bờ mép sắc gọn, hai đầu gọn. Dái tai phải có vết thương dài 02 cm. Vùng mặt phải có 02 vết thương rách da như sau: vết 1: có kích thước (12x2,5) cm, vết sát dái tai phải, bờ mép sắc gọn, hai đầu gọn, sâu 3,5 cm, cắt vào xương hàm phải. Tại cạnh trên vết thương, cách đầu sau vết thương 02 cm có vết rách da phụ dài 1,5 cm. Vết 2: dưới vết 1 là 0,1 cm, có kích thước (5x1) cm, bờ mép sắc gọn, hai đầu gọn, sâu 1 cm. Đầu trước vết thương có vết xước da dài 02 cm, đầu sau vết thương có vết xước da dài 0,8 cm. Vùng cổ trước và cổ phải có 04 vết thương rách da như sau: Vết 1 có kích thước (8x1) cm, vết sát đường giữa, dưới dái tai 05 cm, bờ mép sắc gọn, hai đầu gọn, sâu 01 cm. Đầu sau vết thương có vết xước da dài 3,5 cm. Vết 2: dưới vết 1 ra sau 01 cm có kích thước (8,5x01) cm, bờ mép sắc gọn, hai đầu gọn, sâu 2 cm. Đầu trước vết thương có vết xước da dài 02 cm. Vết 3: dưới vết 2 là 2 cm, có kích thước (13x3) cm, bờ mép sắc gọn, hai đầu gọn, sâu 3,5 cm. Tại cạnh trên vết thương, cách đầu sau vết thương 2,5 cm có vết rách da phụ dài 02 cm. Qua vết thương thấy đứt động mạch, tĩnh mạch cảnh phải, cắt đứt khí quản, đứt thực quản, lộ xương cột sống cổ. Vết 4: dưới vết 3 là 01 cm, có kích thước (08x01) cm, bờ mép sắc gọn, hai đầu gọn, sâu 1,5 cm. Vùng cổ sau có các vết xước da trên diện (13x06) cm.
- Ngực, bụng: Vùng ngực và vai phải có các vết sây sát da, rách da, tụ máu trên diện (30x17) cm.
Trong đó có vết thương rách da kích thước (2,5x0,8) cm, vết dưới hõm ức 3cm, bờ mép sắc gọn, hai đầu gọn.
- Lưng, mông: Không có dấu vết thương tích.
- Hai tay: mặt sau cẳng tay phải, dưới mỏm khuỷu 6 cm, có vết thương rách da kích thước (6,5x2,5) cm, bờ mép sắc gọn, hai đầu gọn, cắt vào xương cẳng tay phải. Mặt trong cổ tay phải có vết sây sát, tụ máu kích thước (2x2,5) cm. Mu đốt 1, ngón 2 bàn tay phải có vết thương rách da kích thước (0,5x0,1) cm. Mu đốt 1 ngón 3 bàn tay phải có vết thương rách da kích thước (1,5x0,2) cm. Mu đốt 1 ngón 4 bàn tay phải có vết thương rách da kích thước (1x0,1) cm. Mu đốt 1 ngón 5 bàn tay phải có vết thương rách da kích thước (1x0,1) cm. Mu đốt 2 ngón 3 bàn tay phải có vết thương rách da kích thước (1x0,2) cm. Mu đốt 3 ngón 4 bàn tay phải có vết thương rách da kích thước (2x0,1) cm. Mặt trước ngoài cánh tay trái, dưới mỏm vai trái 10 cm có vết sây sát, tụ máu kích thước (8,5x0,7) cm. Mặt sau trong cẳng tay trái, trên cổ tay trái 10cm có vết rách da, sây sát da, tụ máu diện (04x3,5) cm, trong đó có vết rách da kích thước (01x0,3) cm. Mặt sau cẳng tay trái, trên cổ tay 6 cm có vết thương rách da kích thước (1,7x0,5) cm, bờ mép sắc gọn, hai đầu gọn. Mặt trước trong cẳng tay trái, trên cổ tay trái 2,5 cm có vết thương rách da kích thước (5,5x1,3) cm, bờ mép sắc gọn, hai đầu gọn. Ngón 1 bàn tay trái có vết thương rách da dài 4,5 cm, cắt đứt xương đốt 1 và xương đốt 2. Gan bàn tay trái có vết thương rách da kích thước (07x02) cm, cắt đứt cân, cơ, xương bàn tay trái. Đốt 3, ngón 5 bàn tay trái bị cắt đứt rời.
- Hai chân: mặt ngoài đầu gối chân phải có các vết sây sát da diện (6x6) cm. Mu bàn chân phải, sát cổ chân có vết rách da nông kích thước (0,5x0,1) cm. Mu ngón 1 và ngón 2 bàn chân phải có các vết sây sát diện (3x1,5) cm. Đầu gối chân trái có các vết sây sát da diện (08x2,5) cm. Xương khớp không có tổn thương.
- Bộ phận sinh dục ngoài bình thường.
2. Khám trong:
- Vùng đầu: các vết thương vùng đỉnh trái gây vỡ xương đỉnh trái kích thước (07x06) cm. Vết thương vùng trán đỉnh phải gây vỡ xương trán đỉnh phải kích thước (6,5x03) cm. Các vết thương vùng thái dương phải gây vỡ xương thái dương phải thành nhiều đường khác nhau và vỡ lan xuống xương chẩm. Chảy máu hai bán cầu đại não và tiểu não phải.
- Cổ: vết thương số 3 vùng cổ trước và cổ phải cắt đứt động mạch, tĩnh mạch cảnh phải, cắt đứt khí quản, đứt thực quản, cắt vào cột sống cổ.
- Ngực, bụng: khung xương lồng ngực không có tổn thương. Tim, phổi không có tổn thương thủng, rách, vỡ. Gan, lách không có tổn thương thủng, rách, vỡ. Dạ dày có thức ăn. Tử cung nhỏ, không có thai.
III. Kết luận:
Qua giám định pháp y tử thi thấy:
- Trên cơ thể nạn nhân có các vết thương rách da, sây sát da, tụ máu.
- Các vết thương vùng đầu gây vỡ xương sọ tương ứng. Chảy máu hai bán cầu đại não và tiểu não phải.
- Vết thương vùng cổ phải cắt đứt động mạch, tĩnh mạch cảnh phải, cắt đứt khí quản, đứt thực quản, cắt vào cột sống cổ.
- Khung xương lồng ngực không có tổn thương. Tim, phổi không có tổn thương thủng, rách, vỡ. Gan, lá lách không có tổn thương thủng, rách, vỡ. Dạ dày có thức ăn. Tử cung nhỏ, không có thai.
- Trong mẫu máu của nạn nhân gửi giám định không tìm thấy Ethanol; không tìm thấy các chất độc thường gặp: Xyanua (CN-, Cyanide), Methanol, thuốc an thần gây ngủ, thuốc diệt chuột, thuốc trừ sâu-diệt cỏ, alkaloid độc của lá ngón, mã tiền, cà độc dược, quinin, ô đầu-phụ tử.
- Mẫu máu của nạn nhân thuộc nhóm máu O.
- Trong mẫu dịch âm đạo của nạn nhân không phát hiện tinh trùng người.
Nguyên nhân chết: Đa chấn thương. Các thương tích trên cơ thể nạn nhân do vật sắc gây nên.
Tại bản kết luận giám định pháp y về ADN số 08/21/TC-ADN ngày 04-3-2021, Trung tâm pháp y Hà Nội đối với dấu vết thu tại hiện trường và trên con dao H sử dụng chém chị T, kết luận:
“…VI. Kết luận:
- Thử định tính phát hiện nhanh vết máu người trên các mẫu: trên ghế (1), gầm bàn (2), sàn nhà phòng ngủ (3), thềm nhà (4), mặt đường (5), trên tường (6), con dao, chiếc quần, chiếc áo: dương tính.
- ADN thu từ chất màu nâu đỏ dính trên ghế (1), gầm bàn (2), mặt đường (5), trên tường (6), con dao, chiếc áo trùng khớp hoàn toàn với ADN của Nguyễn Thị Thu T.
- ADN thu từ chất màu nâu đỏ dính trên chiếc quần trùng khớp hoàn toàn với ADN của Vũ Thanh H.
- ADN thu từ chất màu nâu đỏ dính trên sàn nhà phòng ngủ (3) có sự hiện diện ADN của Nguyễn Thị Thu T và ADN của Vũ Thanh H.
- ADN thu từ chất màu nâu đỏ dính trên thềm nhà (4) có sự hiện diện ADN của Nguyễn Thị Thu T...”.
Tại bản kết luận pháp y về hóa pháp số 118/PY-XNĐH của Viện Pháp y Quân đội - Cục Quân y, đối với chất ma túy trong mẫu máu của Vũ Thanh H, kết luận: “...
Mẫu máu của Vũ Thanh H gửi giám định không phát hiện thấy các chất ma túy...’’.
Quá trình điều tra, gia đình bị can Vũ Thanh H cung cấp cho Cơ quan điều tra hồ sơ bệnh án tâm thần của H điều trị tại Bệnh viện tâm thần Trung ương 1, xác định: Vũ Thanh H vào viện ngày 06-6-2015, ngày ra viện 29-9-2015, chẩn đoán: “Rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng chất gây ảo giác (F16)”.
Ngày 14-5-2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hà Nội đã ra Quyết định trưng cầu giám định tâm thần đối với Vũ Thanh H. Tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 324/KLGĐ ngày 07-10-2021 của Viện Pháp y tâm thần Trung ương kết luận:
“... Tiền sử năm 2015, bị can Vũ Thanh H có đợt điều trị rối loạn tâm thần do sử dụng chất gây ảo giác đã điều trị khỏi. Trước, trong khi phạm tội, bị can Vũ Thanh H không có bệnh tâm thần. Bị can đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Tại thời điểm giám định, bị can Vũ Thanh H mắc bệnh phản ứng hỗn hợp lo âu và trầm cảm. Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F43.22. Bị can đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Căn cứ điều 5 Nghị định số 64/2011/NĐCP ngày 28/7/2011 của Chính phủ quy định về việc thi hành biện pháp bắt buộc chữa bệnh và điều 49 Bộ luật hình sự năm 2015 về “Bắt buộc chữa bệnh”. Bị can Vũ Thanh H không thuộc diện cần áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh”.
Trách nhiệm dân sự: quá trình điều tra vụ án, gia đình bị can Vũ Thanh H đã bồi thường dân sự cho gia đình chị Nguyễn Thị Thu T số tiền 1.550.000.000 đồng (gồm tiền cấp dưỡng nuôi các con của H và chị T, tiền tổn thất về tinh thần). Bà Kiều Thị L, là dì ruột của chị T, là người đại diện theo uỷ quyền đã nhận số tiền trên, không yêu cầu về bồi thường dân sự và có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho Vũ Thanh H.
Tại cáo trạng số 35/ CT-VKS- P2 ngày 20-01-2022, Viện trường Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đã truy tố Vũ Thanh H về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự.
Tại Bản án số 149/2022/HSST ngày 18-5-2022, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; điểm e khoản 1 Điều 52; Điều 40 Bộ luật hình sự; xử phạt Vũ Thanh H tử hình về tội “Giết người”; tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm thi hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định việc xử lí vật chứng, về án phí theo quy định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 20-5-2022, bị cáo Vũ Thanh H kháng cáo cho rằng việc Tòa án cấp sơ thẩm kết án bị cáo hình phạt tử hình là quá nặng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo đề nghị xem xét giảm hình phạt cho bị cáo, lí do hoàn cảnh gia đình khó khăn, các con còn nhỏ; sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải; đã tác động gia đình tích cực bồi thường khắc phục hậu quả …; có bố đẻ được tặng thưởng Huân chương kháng chiến.
Đại diện bị hại đề nghị xem xét giảm hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tham gia phiên tòa, có ý kiến: căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, xét thấy việc Tòa án cấp sơ thẩm kết án bị cáo Vũ Thanh H về tội “Giết người” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự là có căn cứ, không oan. Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng; cố tình thực hiện tội phạm đến cùng. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết của vụ án, áp dụng mức hình phạt cao nhất của khung hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ. Không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị xem xét việc bị cáo phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ, các con còn nhỏ, có thể giảm hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
. Xuất phát từ mâu thuẫn trong việc dạy con nên Vũ Thanh H và chị Nguyễn Thị Thu T thường xảy ra cãi nhau. Khoảng 11 giờ 45 phút ngày 16-02-2021, tại nhà của Vũ Thanh H (số 14C, bến xe ô tô, tổ 47, phường Quang Trung, thị xã Sơn Tây), trong lúc chị T đang bế cháu N2 ở phòng khách, H đã lấy 01 con dao nhọn (lưỡi sắc, chuôi bằng gỗ, dao dài 46,5 cm, phần lưỡi dài 32,5 cm, bản rộng nhất 5,5 cm) ra chém liên tiếp 02 nhát trúng vào đầu chị T. Cháu H1 (con của H và chị T) lao vào ôm chị T thì H dùng tay trái túm tay cháu H1 kéo ra, tay phải cầm dao chém tiếp 01 nhát nữa, chị T giơ tay trái lên đỡ thì bị chém trúng cổ tay. Chị T vùng dậy bỏ chạy thì bị H chém tiếp 01 nhát trúng vào vùng đầu, 01 nhát trúng vào bàn tay trái. Khi chị T chạy ra ngoài ngõ thì bị vấp ngã, H đuổi đến dùng chân trái đạp vào bụng chị T, tay phải cầm dao chém liên tiếp nhiều nhát vào vùng cổ và tay của chị T. Thấy chị T nằm bất động, chảy nhiều máu, H cầm dao đi vào nhà sau đó lại cầm dao đi ra, giơ dao đuổi anh Vũ Hoàng Anh (là hàng xóm của H) đang đứng gần chỗ chị T ra chỗ khác rồi tiếp tục cầm dao chém liên tiếp thêm nhiều nhát vào vùng cổ, ngực của chị T, làm chị T tử vong tại chỗ do đa chấn thương, vỡ xương sọ, chảy máu hai bán cầu đại não và tiểu não phải, vết thương vùng cổ phải cắt đứt động mạch, tĩnh mạch cảnh phải, cắt đứt khí quản, đứt thực quản, cắt vào cột sống cổ.
Như vậy, xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ nhặt trong sinh hoạt nhưng bị cáo đã dùng dao chém nhiều nhát vào vùng đầu, vùng cổ …, là các bộ phận trọng yếu trên cơ thể chị T, cố ý tước đoạt tính mạng chị T là vợ bị cáo. Tòa án cấp sơ thẩm kết án Vũ Thanh H về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự là có căn cứ, không oan.
Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng; bị cáo còn phạm vào tình tiết tăng nặng là “cố tình thực hiện tội phạm đến cùng” quy định tại điểm e khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Sau khi bị chém ở trong nhà, chị T chạy ra ngoài ngõ bị vấp ngã thì bị cáo lại chạy ra chém liên tiếp vào vùng cổ và tay chị T, khi chị T đã nằm bất động, bị cáo đã bỏ vào trong nhà nhưng sau đó lại cầm dao ra chém liên tiếp vào vùng đầu, vùng cổ nạn nhân.
Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tác động gia đình bồi thường, khắc phục hậu quả, đại diện hợp pháp cho bị hại có đơn xin giảm hình phạt cho bị cáo, bị cáo có bố được tặng thưởng huân chương kháng chiến; đây là các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo và đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét.
Xem xét đầy đủ, toàn diện, khách quan các tình tiết của vụ án; nhân thân bị cáo, mức độ phạm tội và hậu quả đặc biệt nghiêm trọng của vụ án; xét thấy việc Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng mức hình phạt cao nhất của khung hình phạt đối với bị cáo là đúng pháp luật. Không có căn cứ giảm hình phạt đối với bị cáo.
. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đã có hiệu lực pháp luật.
. Về án phí: bị cáo phải nộp án phí phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Thanh H và giữ nguyên Bản án số 149/2022/HSST ngày 18-5-2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội như sau:
1. Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm b và s khoản 1; khoản 2 Điều 51; điểm e khoản 1 Điều 52; Điều 40 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Vũ Thanh H tử hình về tội “Giết người”; tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm thi hành án.
2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm nêu trên đã có hiệu lực pháp luật.
3. Bị cáo Vũ Thanh H phải nộp 200.000 đồng án phí phúc thẩm.
Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, Vũ Thanh H được gửi đơn xin ân giảm lên Chủ tịch nước.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSNDCC tại Hà Nội; - TAND tp. Hà Nội; - VKSND tp. Hà Nội; - Công an tp. Hà Nội; - Trại tạm giam CA tp. Hà Nội (02 bản để giao cho bị cáo 01 bản); - Đại diện bị hại; - Cục T.H.A DS tp. Hà Nội; - Lưu: Hồ sơ vụ án, Phòng HC-TP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tất Nam |