- Tranh chấp gì? "Lê Trung H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Trung H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án: 81/2019/HSST Ngày: 26-8 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO,TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Sắc Ly
Các Hội thẩm nhân dân:
+ Bà Nguyễn Thị Cúc
+ Bà Lê Thị Thu Yến
– Thư ký phiên tòa: Ồng Nguyễn Thành Minh Chánh -Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Ngọc – kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 83/2019/TLST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:85/2019/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo:
1/Bị cáo: Lê Trung H, sinh năm: 1998, tại Tiền Giang
- HKTT: Ấp T, xã Xuân Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- Chỗ ở hiện nay: Ấp T, xã X, h.C, Tiền Giang.
- Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Công giáo
- Nghề nghiệp: Làm thuê.
- Trình độ học vấn: 12/12.
- Cha: Vô danh.
- Mẹ: Lê Thị Ái Q, sinh năm: 1979.
- Anh, em ruột: không
- Bị cáo chưa có vợ, con.
Nhân thân:
- Tiền sự: Không.
- Tiền án: Không.
- Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 18/3/2019, tạm giam ngày 21/3/2019. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố M.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2/ Người bị hại:
Lý Thụy Hoàng Ngọc T, sinh năm: 1979 (xin vắng mặt).
HKTT: Số B, đường L, phường N, TP. M, tỉnh Tiền Giang.
3/ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Lê Hoàng M, sinh năm: 1957 (có mặt)
Địa chỉ: Ấp T, xã X, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
3/ Người làm chứng:
Nguyễn Quang L, sinh năm 1996. (vắng mặt)
Địa chỉ: xã B, huyện T, tỉnh Bến Tre,
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 05 giờ ngày 18/3/2019, Lê Trung H đến quán Karaoke Cosy, địa chỉ số B, đường L, phường N, TP. M, tỉnh Tiền Giang do chị Lý Thụy Hoàng Ngọc T, sinh năm 1979, ngụ số B, đường L, phường N, thành phố M làm chủ. Do trước đây, H là nhân viên của quán nhưng đã nghỉ việc nên khi H đến và gặp bảo vệ của quán là anh Nguyễn Quang L, sinh năm 1996, ngụ xã B, huyện T, tỉnh Bến Tre, H xin vào trong quán lấy đồ cá nhân thì L đồng ý. H đi đến quầy tính tiền lén lút lấy chìa khóa để dưới bàn phím máy tính, mở khóa tủ đựng tiền lấy trộm số tiền 61.454.500 đồng. Sau đó, H đi ra cổng thì gặp L, do nghi ngờ H trộm tài sản nên L cầm 01 ống tuýp sắt ngăn H lại, 02 bên giằng co qua lại và H chạy ra phía sau quán trốn thoát ra ngoài.
Đến 06 giờ 30 phút, chị T đến Công an Phường N, thành phố M trình báo. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, chị T nhìn thấy H đang điều khiển xe mô tô biển số 59D1-634.36 trên đường Quốc lộ N, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang nên giữ H lại giao cho Công an xã Long B, huyện C, tỉnh Tiền Giang giải quyết. Số tiền trộm được của chị T, H khai sử dụng mua 01 xe mô tô loại Exciter hiệu Yamaha biển số 59D1-634.36; 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu đen và tiêu xài cá nhân, còn lại 21.354.500 đồng.
Vật chứng thu giữ:
- 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu đỏ đen, biển số 59D1-634.36; số máy 1S94047721, số khung 1S940AY047716 (H khai mua của người thanh niên không rõ họ tên, địa chỉ giá 18.000.000 đồng).
- 01 Bản chính giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô xe máy số 067718 biển số 59D1-634.36 do Lê Hoài L ngụ số M, khu phố M, T, quận M, TP. Hồ Chí Minh đứng tên đăng ký (Kết quả xác minh do Công an Phường T, quận M, thành phố Hồ Chí Minh trả lời: Không có địa chỉ số M, khu phố M, T, quận M, thành phố Hồ Chí Minh, không rõ Lê Hoàng Lâm ở đâu).
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7Plus màu đen, số sê ri FCCY80JJHG04, số Imel 356573085493894, trị giá 14.200.000 đồng.
(Số vật chứng trên hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Mỹ Tho đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố M chờ xử lý theo quy định).
- Tiền Việt Nam: 21.354.500 đồng (Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại Lý Thụy Hoàng Ngọc Thuy).
- Ông Lê Hoàng M đã bồi thường cho chị T số tiền còn lại lài 40.100.000 đồng.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo theo cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là đúng và khai nhận: Khoảng 05 giờ ngày 18/3/2019, bị cáo đến quán Karaoke Cosy, địa chỉ số B, đường L, phường N, TP. M, tỉnh Tiền Giang và gặp bảo vệ của quán là anh Nguyễn Quang L, xin vào trong quán lấy đồ cá nhân. Khi vào trong quán bị cáo đi đến quầy tính tiền lén lút lấy chìa khóa để dưới bàn phím máy tính, mở khóa tủ đựng tiền lấy trộm số tiền 61.454.500 đồng. Số tiền trộm được của chị T, bị cáo sử dụng mua 01 xe mô tô loại Exciter hiệu Yamaha biển số 59D1-634.36 trị giá 18.000.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7Plus màu đen, số sê ri FCCY80JJHG04, số Imel 356573085493894 trị giá 14.200.000 đồng và tiêu xài cá nhân, còn lại 21.354.500 đồng. Chị Lý Thụy Hoàng Ngọc T là người bị hại, có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, nhưng có lời khai trình bày đã nhận đủ số tiền 61.454.500 đồng (nhận từ cơ quan Công an điều tra: 21.354.500 đồng và nhận từ ông Lê Hoàng M là ông Ngoại bị cáo 40.100.000 đồng), nay chị không yêu cầu gì và có đơn yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Ông Lê Hoàng M là ông ngoại của bị cáo H trình bày: đã bỏ ra số tiền 40.100.000 đồng để bồi thường cho chị T, ông không yêu cầu bị cáo hoàn lại cho ông số tiền 40.100.000 đồng. Đối với tài sản là xe và điện thoại mà bị cáo Hiếu đã mua, ông yêu cầu giao lại cho bị cáo H.
Tại bản cáo trạng số 92/CT-VKS-HS ngày 12/7/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố M đã truy tố Lê Trung H về tội “ Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại điểm c, khoản 2 Điều 173 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố M giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, phân tích các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điểm c, khoản 2, Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điểm b, s Khoản 1; khoản 2 Điều 51; xử phạt bị cáo Lê Trung Hiếu từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, về tội “ Trộm cắp tài sản”.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử:
Trả lại cho bị cáo các tài sản gồm 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu đỏ đen, biển số 59D1-634.36; số máy 1S94047721, số khung 1S940AY047716; 01 Bản chính giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô xe máy số 067718 biển số 59D1-634.36 do Lê Hoài L ngụ số M, khu phố M, T, quận M, TP. Hồ Chí Minh đứng tên đăng ký; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7Plus màu đen, số sê ri FCCY80JJHG04, số Imel 356573085493894.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 46; Điều 48 Bộ luật hình sư năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 30 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử:
Bị hại chị Lý Thụy Hoàng Ngọc T đã nhận lại đủ số tiền 61.454.500 đồng, bị hại không yêu cầu gì nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Ghi nhận ông Lê Hoàng M không yêu cầu bị cáo hoàn trả 40.100.000 đồng.
Lời tự bào chữa của bị cáo Lê Trung H: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra thành phố Mỹ Tho, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có khiếu nại hay có ý kiến gì về hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận về hành vi mà các bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện Kiểm sát. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ, cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ kết luận, khoảng 05 giờ ngày 18/3/2019, bị cáo Lê Trung H đến quán Karaoke Cosy, địa chỉ số B, đường L, phường N, TP. M, tỉnh Tiền Giang và gặp bảo vệ của quán là anh Nguyễn Quang L, bị cáo xin vào trong quán lấy đồ cá nhân. Khi vào trong quán bị cáo đi đến quầy tính tiền lén lút lấy chìa khóa để dưới bàn phím máy tính, mở khóa tủ đựng tiền lấy trộm số tiền 61.454.500 đồng. Sau đó, bị cáo đi ra cổng thì gặp bảo vệ , 02 bên giằng co qua lại và bị cáo chạy ra phía sau quán trốn thoát ra ngoài. Số tiền trộm được của chị T, bị cáo sử dụng mua 01 xe mô tô loại Exciter hiệu Yamaha biển số 59D1-634.36 trị giá 18.000.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7Plus màu đen, số sê ri FCCY80JJHG04, số Imel 356573085493894 trị giá 14.200.000 đồng và tiêu xài cá nhân, còn lại 21.354.500 đồng. Do đó, hành vi của bị cáo H đã phạm vào tội “ Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm c, khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu của bị hại được pháp luật bảo vệ; có ý thức xem thường pháp luật. Do vậy, cần xử phạt nghiêm khắc là cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân lương thiện và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Về nhân thân bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự.
Tình tiết tăng nặng: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải, tích cực vận động gia đình khắc phục thiệt hại, nên căn cứ vào Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo khi lượng hình.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 46; Điều 48 Bộ luật hình sư năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 30 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Bị hại chị Lý Thụy Hoàng Ngọc T đã nhận lại đủ số tiền 61.454.500 đồng và không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Ghi nhận ông Lê Hoàng M bồi thường thay cho bị cáo 40.100.000 đồng và không yêu cầu bị cáo hoàn trả, yêu cầu giao lại cho bị cáo các tài sản mà bị cáo đã mua.
Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho đang tạm giữ các tài sản gồm 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu đỏ đen, biển số 59D1-634.36; số máy 1S94047721, số khung 1S940AY047716; 01 Bản chính giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô xe máy số 067718 biển số 59D1-634.36 do Lê Hoài L ngụ số M, khu phố M, T, quận M, TP. Hồ Chí Minh đứng tên đăng ký; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7Plus màu đen, số sê ri FCCY80JJHG04, số Imel 356573085493894. Đây là tài sản bị cáo dùng số tiền của bị hại để mua được, tuy nhiên bị cáo và gia đình đã bồi thường đủ số tiền cho bị hại, bị hại trình bày đã nhận đủ số tiền bị trộm và không yêu cầu gì, ông M là ông ngoại của bị cáo đã bỏ ra số tiền 40.100.000 đồng đề bồi thường cho bị hại, ông M yêu cầu giao lại cho bị cáo các tài sản trên, nên xét thấy cần trả lại tài sản cho bị cáo.
Lời đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Trung H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
1/ Áp dụng Khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử: Phạt bị cáo Lê Trung H 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 18/3/2019.
2/ Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 46; Điều 48 Bộ luật hình sư năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 30 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Ghi nhận bị hại Lý Thị Hoàng Ngọc T đã nhận lại số tiền 61.454.500 đồng và không yêu cầu bồi thường.
( Theo biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu ngày 15/4/2019 và biên bản thỏa thuận về dân sự ngày 26/3/2019).
Ghi nhận ông Lê Hoàng M không yêu cầu bị cáo hoàn trả 40.100.000 đồng (tiền ông Mi bồi thường cho bị hại).
3/ Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sư năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Trả lại cho bị cáo các tài sản gồm 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu đỏ đen, biển số 59D1-634.36; số máy 1S94047721, số khung 1S940AY047716; 01 Bản chính giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô xe máy số 067718 biển số 59D1-634.36 do Lê Hoài L ngụ số M, khu phố M, T, quận M, TP. Hồ Chí Minh đứng tên đăng ký; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7Plus màu đen, số sê ri FCCY80JJHG04, số Imel 356573085493894 (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01 tháng 7 năm 2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho )
4/ Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá 14 về mức thu, nộp, giảm và quản lý sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lê Trung H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5/Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Bị cáo Lê Trung H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.Người bị hại anh Lê Thị Hoàng Ngọc T; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Hoàng M có quyền kháng cáo Trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Để yêu cầu xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án,tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh TG; - VKSND Tỉnh,thành phố Mỹ Tho; - Chi cục THA DS; - Trại giam; - Bị cáo, bị hại; - Lưu. | Phạm Thị Sắc Ly |