vanban.org

Bản án 81/2026/HSST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng, TP Đà Nẵng Tuyên án 26/05/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Hải Đ phạm tội " Sử dụng trái phép chất ma túy".

Xử phạt: Trần Hải Đ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 05/3/2026. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS tuyên: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Hải Đ - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Hải Đ phạm tội " Sử dụng trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 256a Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 – ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 81/2026/HSST
Ngày 26/5/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Thế Tài

Các Hội thẩm nhân dân:

+ Ông Huỳnh Bá Dương

+ Ông Huỳnh Bá Tiến.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Trang - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Đào Đức Hữu - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 78/2026/TLST-HS ngày 21 tháng 4 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1010/2026/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2026 đối với bị cáo:

Họ và tên: TRẦN HẢI Đ, tên gọi khác: Đen, sinh ngày: 18/9/1997, tại TP .; CCCD số: 048097004409 cấp ngày 28/7/2024; Nơi ĐKHKTT: Tổ F, phường S, thành phố Đà Nẵng; Chỗ ở: Số N, phường S, thành phố Đà Nẵng; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Trần H (SN: 1966), con bà: Trần Thị Thanh T (SN: 1971); Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Tiền án: Ngày 11/11/2019, Đ bị TAND TP.Đà Nẵng, tuyên phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” (Bản án số: 201/2019/HSPT). Ngày 08/7/2024 chấp hành xong hình phạt tù, đã chấp hành xong án phí; Tiền sự: Ngày 21/3/2025, cai nghiện tự nguyện tại Cơ sở cai nghiện ma tuý số A, TP.Đà Nẵng, đến tháng 9/2025 về lại địa phương. Ngày 23/9/2025, UBND phường S quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú số: 371/QĐ-UBND thời hạn từ ngày 22/9/2025 đến 22/9/2026.

Nhân thân: Ngày 06/5/2019, bị Công an quận S (cũ) xử phạt VPHC với số tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý (Quyết định số: 92/QĐ-XPVPHC).

Bị cáo bị bắt ngày 05/3/2026, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Ngũ Hành S - Trại tạm giam số 1, công an TP. Đà Nẵng. Có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Trần H, sinh năm: 1966. Địa

- 1 - chỉ: số H đường N, phường S, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Hải Đ hiện đang là đối tượng thuộc diện quản lý sau cai nghiện tại nơi cư trú theo Quyết định số 371/QĐ-UBND ngày 23/9/2025 của UBND phường S, thời hạn từ ngày 22/9/2025 đến ngày 22/9/2026. Vào lúc 14 giờ 00 ngày 12/01/2026, Công an phường S tiến kiểm tra chất ma tuý trong cơ thể đối với Trần Hải Đ. Qua kiểm tra cho kết quả Đ dương tính với ma túy, loại Methamphetamine.

Vật chứng tạm giữ:

- 01 chai nhựa trong suốt, được đậy kín nắp bên trong chứa mẫu nước tiểu thu của Trần Hải Đ vào ngày 12/01/2026, đã niêm phong, ký hiệu Đ.

- 01 que thử test ma túy T-Prov của Trần Hải Đ, trên que xuất hiện một vạch đỏ tại ô thử MET, các ô còn lại hiện hai vạch đỏ.

Tại Kết luận giám định số: 187/KL-KTHS ngày 23/01/2026 của Phòng K Công an thành phố Đà Nẵng kết luận: tìm thấy chất ma túy Methamphetamine trong mẫu nước tiểu thu giữ của Trần Hải Đ ký hiệu Đ gửi giám định.

Qua điều tra xác định: Vào ngày 08/01/2026, đối tượng tên Đ1 (không rõ lai lịch) đến nhà Đ nhờ Đ vào khu vực phường Đ, TP.Đà Nẵng để sửa xe. Sau khi sửa xe xong, Đ1 hỏi Đ “có sử dụng ma tuý đá không”, Đ nói “có”. Đ1 đưa cho Đ 01 gói ni lông kích thước (0,5x05) cm, bên trong có chứa ma túy đá, Đăng cất số ma tuý trên vào trong người rồi về nhà. Đến tối cùng ngày, Đ lấy số ma túy trên ra sử dụng một mình ở phòng ngủ trong nhà Đăng. Đến ngày 12/01/2026, Công an phường S tiến hành kiểm tra chất ma túy trong cơ thể Đăng thì phát hiện sự việc.

Quá trình điều tra, Trần Hải Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

* Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Đà Nẵng giữ nguyên quan điểm truy tố theo Bản cáo trạng số 41/CT-VKSDNG-KV ngày 20/4/2026 và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Trần Hải Đ phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” đồng thời đề nghị:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt Trần Hải Đ từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

* Về xử lý vật chứng:

- Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 túi niêm phong vỏ chai nhựa mã số: 2005537 có chữ ký của Giám định viên và Điều tra viên.

- Đối với 01 que thử test ma túy T-Prov của Trần Hải Đ, đề nghị tiếp tục lưu trữ trong hồ sơ vụ án.

- 2 -

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận gì với phần luận tội của Kiểm sát viên.

* Lời nói sau cùng: Bị cáo đã nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình, có thái độ ăn năn hối cải và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, Trần Hải Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, xét lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu điều tra thu thập đầy đủ có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để xác định: Ngày 08/01/2026 tại nhà số H đường N, phường S, thành phố Đà Nẵng, Trần Hải Đ đang là đối tượng quản lý sau cai nghiện tại nơi cư trú theo quyết định số: 371/QĐ-UBND ngày 23/9/2025 của UBND phường S, TP.Đà Nẵng nhưng có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy loại Methamphetamine. Hành vi trên đây của bị cáo đã phạm vào tội "Sử dụng trái phép chất ma túy " quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2025. Do đó cáo trạng số 41/CT-VKSDNG-KV ngày 20/4/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng đã truy tố là có cơ sở, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội thì thấy: Ma túy tổng hợp Methamphetamine là loại độc chất, có khả năng gây nghiện mạnh, có hại cho sức khoẻ và ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội do đó bị Nhà nước cấm tự do tàng trữ, mua bán, sử dụng, vận chuyển hoặc chiếm đoạt. Bị cáo Trần Hải Đ nhận thức được điều đó, song để phục vụ cho nhu cầu của bản thân đã bất chấp sự trừng trị của pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện nhưng lại không tu dưỡng, rèn luyện để từ bỏ ma túy mà lại tiếp tục sử dụng. Việc này thể hiện sự coi thường pháp luật, bất chấp các biện pháp giáo dục, quản lý hành chính đã được áp dụng.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo có 01 tiền án: Ngày 11/11/2019, bị TAND TP.Đà Nẵng, tuyên phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo bản án số: 201/2019/HSPT. Ngày 08/7/2024 chấp hành xong hình phạt tù, đã chấp hành xong án phí. Ngoài ra bị cáo còn có nhân thân xấu: Ngày 06/5/2019, bị Công an quận S

- 3 - (cũ) xử phạt VPHC với số tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý; Ngày 21/3/2025, cai nghiện tự nguyện tại Cơ sở cai nghiện ma tuý số A, TP.Đà Nẵng; Ngày 23/9/2025, UBND phường S quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú số: 371/QĐ-UBND thời hạn từ ngày 22/9/2025 đến 22/9/2026. Do đó, lần phạm tội này của bị cáo Đ còn phạm vào tình tiết tăng nặng tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Song xét thấy, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS cho bị cáo khi lượng hình.

Về biện pháp chấp hành hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Về các vấn đề khác:

- Đối với ông Trần H (sinh năm: 1966, là cha ruột Đ), ông H không biết việc Đ sử dụng ma tuý tại nhà mình, do đó Cơ quan CSĐT Công an TP.Đà Nẵng không đề cập truy cứu TNHS là phù hợp.

- Đối với đối tượng tên Đ1 là người đã cung cấp ma tuý cho Đ sử dụng. Hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch đề nghị Cơ quan CSĐT Công an TP.Đà Nẵng tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý theo quy định của pháp luật.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 (một) túi niêm phong vỏ chai nhựa mã số: 2005537 có chữ ký của Giám định viên và Điều tra viên, cần tịch thu tiêu huỷ.

- Đối với 01 que thử test ma túy T-Prov của Trần Hải Đ, cần tiếp tục lưu trữ trong hồ sơ vụ án.

Xét các nội dung đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Đà Nẵng về tội danh, điều khoản luật và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cần áp dụng đối với bị cáo tại phiên tòa cơ bản phù hợp các nhận định của Hội đồng xét xử.

Án phí HSST: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Trần Hải Đ phạm tội " Sử dụng trái phép chất ma túy".

1. Căn cứ: Điểm b Khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.

- 4 -

Xử phạt: Trần Hải Đ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 05/3/2026.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS tuyên:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) túi niêm phong vỏ chai nhựa mã số: 2005537 có chữ ký của Giám định viên và Điều tra viên.

(Vật chứng, tài sản trên hiện Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 – Đà Nẵng đang tạm giữ theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 28/4/2026).

- Tiếp tục lưu trữ trong hồ sơ vụ án 01 que thử test ma túy T-Prov của Trần Hải Đ.

3. Án phí HSST: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ