vanban.org

Bản án 81/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Các điều 56, 58, 81,82, 83 của của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Cà T. 1.Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Cà T ly hôn với anh Danh C. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Cà Th- Danh Ch"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Các điều 56, 58, 81,82, 83 của của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4-VĨNH LONG
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 81/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 16-3-2026
V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con,

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4-VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Nga.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Võ Hồng Quận.

2. Bà Trần Thị Kim Đồng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Kim Liên – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4- Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Hạnh –Kiểm sát viên

Ngày 16 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 278/2025/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 02 năm 2026 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Cà T, sinh năm 1992 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp M, xã T, tỉnh Vĩnh Long.

Bị đơn: Anh Danh C, sinh năm 1985 (vắng mặt).

Địa chỉ ấp M, xã T, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 28/7/2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Cà T trình bày: Chị và anh Danh C thành hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (nay là xã T, tỉnh Vĩnh Long ) ngày 19/10/2019. Sau khi cưới, vợ chồng sống tại nhà chị thuộc ấp M, xã T được 07 năm thì xảy ra mâu thuẩn do bất đồng quan điểm vợ chồng không còn tiếng nói chung nên đã ly thân nhau. Chị xác định không hàn gắn được tình cảm vợ chồng, chị yêu cầu được ly hôn với anh Danh C.

Về con chung: Chị và anh Danh C có 02 con chung tên Danh Nguyễn Anh Thư S ngày 21/01/2020 và Danh Ngọc Ái V, sinh ngày 03/12/2021 hiện đang sống chung với chị. Chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh Danh C phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung,nợ chung: Chị Nguyễn Thị Cà T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Danh C đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng không gửi văn bản trình bày ý kiến và vắng mặt các phiên họp, phiên hòa giải không lý do.

Tại biên bản xác minh ngày 25/12/2025, bà Nguyễn Thị M (mẹ ruột chị Nguyễn Thị Cà T) trình bày: Vợ chồng chị Nguyễn Thị Cà T và anh Danh C thành hôn năm 2018. Sau khi thành hôn, anh Danh C chuyển hộ khẩu về sống chung với gia đình bà nhưng vợ chồng thường xuyên cải vả nhau về cách nuôi dạy con và anh C luôn nghi ngờ lòng chung thủy của chị Cà T. Gia đình đã khuyên và hàn gắn nhiều lần nhưng vợ chồng chị T vẫn không thay đổi nên anh Danh C bỏ đi và chị Cà T gửi đơn xin ly hôn. Về con chung của Cà T và Danh C hiện nay do Cà Thu chăm sóc nuôi dưỡng, các cháu được chăm sóc chu đáo và phát triển bình thường.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Cà T vắng mặt có văn bản đề nghị vắng mặt và bị đơn anh Danh C vắng mặt không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu Vực 4 – Vĩnh Long phát biểu:

- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa: Thẩm phán được phân công thụ lý và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

- Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Cà T đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật; bị đơn anh Danh C không gửi văn bả trình bày ý kiến, không tham gia phiên họp, phiên tòa là vi phạm quy định tại Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về hướng giải quyết vụ án:

Đề nghị áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 9, 19, 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Cà T ly hôn với anh Danh C

Về con chung: Đề nghị giao 02 con chung tên Danh Nguyễn Anh Thư S ngày 21/01/2020 và Danh Ngọc Ái V, sinh ngày 03/12/2021 cho chị Nguyễn Thị Cà T tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng. Anh Danh C không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không xem xét.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị về án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Cà T vắng mặt có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh Danh C vắng mặt lần 2 không lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự trên.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân:

Chị Nguyễn Thị Cà T và anh Danh C thành hôn năm 2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (nay là xã T, tỉnh Vĩnh Long) ngày 19/10/2019 nên xem đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp phù hợp theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Trong quá trình chung sống, chị Nguyễn Thị Cà T trình bày vợ chồng xảy ra mâu thuẩn do bất đồng quan điểm được gia đình hàn gắn nhiều nhưng không đạt kết quả. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã triệu tập đương sự đến tham gia phiên hòa giải nhiều lần nhằm giúp đỡ chị T, anh Chi đoàn T1 nhưng anh C vắng mặt không lý do, chứng tỏ, anh C không mong muốn vợ chồng đoàn tụ. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẩn vợ chồng chị T, anh C đã trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài nên chị T xin ly hôn là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Cà T và anh Danh C có 02 con chung tên Danh Nguyễn Anh T2, sinh ngày 21/01/2020 và Danh Ngọc Ái V, sinh ngày 03/12/2021 hiện đang sống chung với chị T. Chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy anh C đã nhận được các văn bản tố tụng nhưng không có ý kiến gì về việc chăm sóc nuôi dưỡng con chung. Do đó để ổn định cuộc sống của con chung cần giao con chung tên Danh Nguyễn Anh T2, sinh ngày 21/01/2020 và Danh Ngọc Ái V, sinh ngày 03/12/2021 cho chị T tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình

Về cấp dưỡng nuôi con: Việc cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con. Chị Nguyễn Thị Cà T là người đang trực tiếp nuôi con nhưng không yêu cầu anh C có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị Cà T xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên không xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Cà T có nghĩa vụ nộp 300.000đ án phí ly hôn theo quy định điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng: Các điều 56, 58, 81,82, 83 của của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Cà T.

1.1.Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Cà T ly hôn với anh Danh C.

1.2.Về con chung: Giao 02 con chung tên Danh Nguyễn Anh T2, sinh ngày 21/01/2020 và Danh Ngọc Ái V, sinh ngày 03/12/2021 cho chị Nguyễn Thị Cà T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Danh C không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung không ai được cản trở.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị Nguyễn Thị Cà T có nghĩa vụ nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0006323 ngày 17/10/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long, chị T không phải nộp tiếp.

3. Nguyên đơn, bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ