vanban.org

Bản án 81/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Như Q được ly hôn anh Lê Xuân T.

Về con chung: Có 01 cháu Lê Việt A, sinh ngày 25/01/2018. Xử giao cháu Lê Việt A cho chị Nguyễn Như Q trực tiếp chăm nom, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu A đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi theo quy định pháp luật. Anh Lê Xuân T không phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Như Q - Lê Xuân T"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Như Q được ly hôn anh Lê Xuân T.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 – LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 81/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 15-7-2026
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Chu Thị Thoảng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thu

2. Ông Đỗ Văn Luân

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tuấn – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 – Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Bích Ngọc – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 7 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 3 – Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 271/2026/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2026 về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2026 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Như Q, sinh năm 2000. Số CCCD: xxxxxxxxxxxx. Địa chỉ: Thôn N, xã L, tỉnh Lào Cai (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Lê Xuân T, sinh năm 1993. Số CCCD: xxxxxxxxxxxx

Địa chỉ: Thôn P, xã M, tỉnh Lào Cai. Hiện đang chấp hành án tại: Đ, phân trại 3, trại giam Y, Cục C, Bộ C1. Địa chỉ: Xã H, P, tỉnh Sơn La (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn chị Nguyễn Như Q trình bầy: Tôi và anh Lê Xuân T kết hôn với nhau là hoàn toàn tự nguyện. Đăng ký ngày 07/5/2018 tại Ủy ban nhân dân thị trấn M, huyện V, tỉnh Yên Bái. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 3/2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, từ đó dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng xảy ra. Vợ chồng sống ly thân nhau từ tháng 8/2020 cho đến nay không ai quan tâm đến ai cả. Tôi được biết tháng 8/2024 anh T bị bắt về tội “Đánh bạc” và hiện nay anh T đang chấp hành án tại K3, đội 22, trại giam Y, tỉnh Sơn La. Nay tôi xác định tình cảm vợ chồng không còn gì nữa. Không thể tiếp tục sống chung với nhau được nữa. Đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn anh Lê Xuân T.

Về con chung: Có 01 cháu Lê Việt A, sinh ngày 25/01/2018. Khi ly hôn về con chung tôi nhận nuôi cháu A và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Công việc của tôi hiện nay làm Công ty thu nhập một tháng 10.000.000 đồng đủ để nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí: Tôi nhận chịu cả án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Tại bản tự khai bị đơn anh Lê Xuân T trình bầy: Tôi và chị Nguyễn Như Q có đăng ký kết hôn ngày 07 tháng 5 năm 2018 tại Ủy ban nhân dân thị trấn M, huyện V, tỉnh Yên Bái trên tinh thần tự nguyện không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc đến tháng 3/2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, đến tháng 8/2020 vợ chồng tôi sống ly thân nhau. Về tình cảm nay tôi xác định tình cảm vợ chồng không còn, tôi đồng ý ly hôn với chị Nguyễn Như Q. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định

Về con chung: Có 01 cháu Lê Việt A, sinh ngày 25/01/2018. Hiện cháu đang ở thôn N, xã L, tỉnh Lào Cai. Tôi đồng ý để chị Nguyễn Như Q nuôi và chăm sóc cháu.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên toà sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lào Cai phát biểu ý kiến: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa. Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng thủ tục tố tụng dân sự, quyền và nghĩa vụ của các đương sự được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình đề nghị Tòa án giải quyết cho chị Nguyễn Như Q ly hôn anh Lê Xuân T.

Về con chung: Căn cứ Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình giao con chung là Lê Việt A sinh ngày 25/01/2018 cho chị Nguyễn Như Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác của pháp luật. Anh Lê Xuân T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 3 Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao. Chị Nguyễn Như Q phải chịu 150.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

ơ

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp về Hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc thụ lý và giải quyết đơn khởi kiện của Tòa án là đúng thẩm quyền được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn; bị đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Tòa án tiến hành xét xử vụ án là đúng quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về tư cách người tham gia tố tụng: Tòa án đã xác định đúng tư cách của người tham gia tố tụng gồm nguyên đơn, bị đơn trong vụ án.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Như Q và anh Lê Xuân T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký tại Ủy ban nhân dân thị trấn M, huyện V, tỉnh Yên Bái vào ngày 07 tháng 5 năm 2018 là hôn nhân hợp pháp. Chị Q và anh T đều cho rằng hiện nay vợ chồng không còn tình cảm với nhau. Chị Q xin ly hôn. Anh T đồng ý ly hôn.

Tại điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”.

Căn cứ vào lời trình bầy của các đương sự và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Đã xác định mâu thuẫn vợ chồng xảy ra dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn. Chị Q xin ly hôn. Anh T đồng ý ly hôn. Từ đó có căn cứ cho rằng tình trạng hôn nhân giữa chị Q và anh T đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 để xử cho chị Q được ly hôn anh T là có căn cứ.

Về con chung: Có 01 cháu Lê Việt A, sinh ngày 25/01/2018. Khi ly hôn chị Quỳnh nhận nuôi con và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Anh T đồng ý. Để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho cháu A được đầy đủ, ổn định và theo nguyện vọng của cháu muốn được ở với mẹ là chị Q. Do vậy cần giao cháu A cho chị Q nuôi dưỡng. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con. Nguyện vọng về nuôi con chung của chị Q không trái với quy định tại Điều 81; 82; 83 Luật hôn nhân gia đình. Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Q và anh T đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 3 Điều 11 Nghị quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao. Chị Nguyễn Như Q phải chịu 150.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Phần đề nghị tại phiên tòa của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lào Cai là có căn cứ và phù hợp quy định pháp luật. Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ khoản 3 Điều 11 Nghị quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Như Q được ly hôn anh Lê Xuân T.

2. Về con chung: Có 01 cháu Lê Việt A, sinh ngày 25/01/2018.

Xử giao cháu Lê Việt A cho chị Nguyễn Như Q trực tiếp chăm nom, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu A đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi theo quy định pháp luật. Anh Lê Xuân T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm con không ai được ngăn cản.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Như Q phải chịu 150.000đồng tiền án dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm là 150.000đồng mà chị Nguyễn Như Q đã nộp tại Thi hành án dân sự tỉnh Lào Cai theo biên lai thu số: 0002102 ngày 01 tháng 6 năm 2026.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 4, Điều 6, Điều 7, Điều 34, Điều 36 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 34 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ