- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn V "Huỷ hoại tài sản" - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
- Tòa quyết gì? Hủy bản án hình sự sơ thẩm số: 43/2025/HS-ST ngày 16/4/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi (nay là Toà án nhân dân khu vực 1 – Quảng Ngãi), chuyển hồ sơ cho Toà án nhân dân Khu vực 1 – Quảng Ngãi để xét xử lại theo thủ tục chung.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 81/2025/HS-PT Ngày 22-8-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Giang.
Các Thẩm phán: Ông Vũ Văn Thuấn;
Ông Lê Quang Toại.
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Đại Nghĩa – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Tuyết Mai – Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 8 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 96/2025/TLPT-HS ngày 12 tháng 6 năm 2025 do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 43/2025/HS-ST ngày 16/4/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi (nay là Toà án nhân dân khu vực 1 – Quảng Ngãi).
Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Văn V, sinh ngày 24/4/1965 tại tỉnh Quảng Ngãi; căn cước số: 051065015213; nơi cư trú: Tổ dân phố Q, Phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi (Nay là Tổ dân phố Q, Phường T, tỉnh Quảng Ngãi); nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: N (Chết) và bà Đỗ Thị K (Chết); vợ: Lý Thị L, có 02 con, lớn sinh năm 1988, nhỏ sinh năm 1990; tiền án: Không.
Có 02 tiền sự: Ngày 29/9/2022, bị Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Không thực hiện công việc phải làm theo bản án, quyết định của Toà án” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 306/QĐ-CTHADS bằng hình thức phạt tiền, số tiền 4.000.000đồng; bị cáo chưa nộp phạt.
Ngày 08/12/2022, bị Chủ tịch UBND thành phố Q ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản của cá nhân” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 336/QĐ-XPHC bằng hình thức phạt tiền, số tiền 4.000.000đồng; bị cáo chưa nộp phạt.
Bị cáo đang tại ngoại; có mặt tại phiên tòa
Bị hại:
+ Bà Nguyễn Thị Xuân T, sinh năm 1968; địa chỉ: Tổ dân phố Q, Phường T, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt.
+ Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn C, xã A, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Xuất phát từ tranh chấp chia di sản thừa kế của bị cáo Nguyễn Văn V với bà Nguyễn Thị Xuân T liên quan đến thửa đất số 637, tờ bản đồ số 6, diện tích 2.016m2 (đo đạc thực tế là 2.259,5m2) tại địa chỉ: Tổ dân phố Q, Phường T, thành phố Q đã được Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi giải quyết bằng Bản án số 06/2021/DS-ST ngày 06/5/2021, quyết định: Chia, giao cho bà Nguyễn Thị Xuân T được quyền quản lý, sử dụng, định đoạt 870m2 đất ở thuộc thửa đất số 637, tờ bản đồ số 6, Phường T; chia, giao cho bị cáo Nguyễn Văn V được quyền quản lý, sử dụng, định đoạt 1.389,5m2 đất thuộc thửa đất số 637, tờ bản đồ số 6, Phường T. Bị cáo V và bà T kháng cáo nội dung Bản án trên, đến ngày 29/11/2021, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng giải quyết bằng Bản án số 226/2021/DS-PT, quyết định: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn V và kháng cáo của bà Nguyễn Thị Xuân T; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 06/2021/DS-ST ngày 06/5/2021 của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi. Bị cáo V có đơn đề nghị giám đốc thẩm Bản án số 226/2021/DS-PT của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng; ngày 30/9/2022, Tòa án nhân dân tối cao ban hành thông báo số 964/TB-TA với nội dung “Không có căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với Bản án dân sự phúc thẩm số 226/2021/DS-PT ngày 29/11/2021 của Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng”.
Trên cơ sở Bản án số 226/2021/DS-PT ngày 29/11/2021 của Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng có hiệu lực kể từ ngày tuyên án nhưng bị cáo Nguyễn Văn V không thực hiện việc chuyển giao quyền sử dụng đất cho bà T. Ngày 21/3/2022, bà T có đơn yêu cầu thi hành án. Ngày 23/11/2022, Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi thực hiện cưỡng chế buộc bị cáo Nguyễn Văn V chuyển giao quyền sử dụng đất 870m2 đất ở thuộc thửa đất số 637, tờ bản đồ số 6, Phường T, thành phố Q và tài sản gắn liền với đất cho bà T, đúng quy định của pháp luật. Quá trình cưỡng chế, bà T thuê nhân công chôn 16 trụ bê tông và kéo 25m lưới B40 theo giới cận phân chia đất của bà T và đất của bị cáo V theo nội dung bản án đã tuyên. Khoảng 23 giờ ngày 23/11/2022 đến khoảng 01 giờ ngày 24/11/2022, bị cáo V cùng vợ là bà Lý Thị L (sinh năm 1968, nơi cư trú: Tổ dân phố Q, Phường T) thực hiện hành vi tháo gỡ lưới B40 cuộn thành 03 cuộn, dùng tay lay nhổ 16 trụ cột bê tông, làm gãy 05 trụ không thể sử dụng lại được. Ngày 08/12/2022, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Q ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 336/QĐ-XPHC về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản của cá nhân” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 15 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ, số tiền phạt là 4.000.000 đồng đối với bị cáo Nguyễn Văn V. Vào lúc 08 giờ, ngày 30/12/2022, Công an Phường T đến nhà của bị cáo để giao Quyết định, bị cáo nhận Quyết định xử phạt nhưng không ký vào biên bản giao, nhận và không chấp hành quyết định xử phạt.
Đồng thời, trong thời gian từ tháng 02/2024 đến tháng 3/2024, Nguyễn Văn V đã 02 lần thực hiện hành vi dùng búa, xà beng đập vỡ các khoảng tường của bà Nguyễn Thị Xuân T và bà Nguyễn Thị T1, cụ thể như sau: Lần thứ nhất: Khoảng cuối tháng 11 âm lịch năm 2023, bà Nguyễn Thị Xuân T có thuê ông Vy Văn T2 chôn trụ bê tông và xây tường bằng gạch 06 lỗ, không tô trát, trên phần đất thuộc thửa đất số 565, tờ bản đồ số 22 (trước là thửa đất số 637, tờ bản đồ số 6), diện tích là 863,1m2 (diện tích giảm 6,9m2 do quá trình đo đạc), địa chỉ: Tổ dân phố Q, Phường T, thành phố Q của bà T. Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 03/02/2024, Nguyễn Văn V có hành vi dùng búa đóng đinh đập vỡ bờ tường được xây gạch và xi măng do bà T xây dựng, có kích thước (2,16 x 1,36) m để làm lối đi ra miếu thờ thắp nhang vì cho rằng tường xây trên phần đất của bị cáo, làm ngăn cách đường đi ra miếu thờ ở góc phía Đông Nam khu vườn để thắp nhang.
Lần thứ hai: Theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 28/3/2024, lập tại Văn phòng C, thửa đất số 565, tờ bản đồ số 22, diện tích là 863,1m2, tại tổ dân phố Q, Phường T, thành phố Q được bà Nguyễn Thị Xuân T chuyển nhượng quyền sử dụng cho bà Nguyễn Thị T1. Khoảng 14 giờ 45 phút ngày 21/4/2024, bị cáo V tiếp tục dùng xà beng đập vỡ bờ tường xây bằng gạch 06 lỗ và xi măng của bà T1 một đoạn dài 3m, có 07 lớp gạch (tính được 100 viên gạch 06 lỗ bị vỡ), một đoạn tường dài 2,85m, có 03 lớp gạch (tính được 40 viên gạch 06 lỗ bị vỡ).
* Kết luận định giá tài sản:
Ngày 26/4/2024, Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Q ban hành kết luận định giá tài sản số: 30/KL-HĐĐGTXTSTTHS, kết luận: Chi phí khắc phục lại hiện trạng ban đầu đoạn bờ tường được xây bằng xi măng và gạch 06 lỗ không tô trát, bị vỡ trong diện kích thước (2,16 x 1,36)m tại thời điểm ngày 03/02/2024 trị giá là 666.000 đồng.
Ngày 14/6/2024, Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự thành phố Q ban hành kết luận định giá tài sản số: 45/KL-HĐĐGTXTSTTHS, kết luận: Chi phí khắc phục lại hiện trạng ban đầu đoạn bờ tường dài 03m, được xây bằng xi măng và gạch, không tô trát, có 07 lớp gạch 6 lỗ (tính được 100 viên gạch) bị vỡ và một đoạn bờ tường dài 2,85 m, được xây bằng xi măng, không tô trát, có 03 lớp gạch 6 lỗ (tính được 40 viên gạch) bị vỡ tại thời điểm ngày 21/4/2024, trị giá là 743.600 đồng.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Q đã thu giữ: 01 đoạn video được ghi bằng điện thoại di động ngày 21/4/2024, thời lượng 19 giây, được lưu trong đĩa DVD (kèm theo hồ sơ vụ án) 01 búa đóng đinh, 01 cây xà beng không thu được.
Bản án hình sự sơ thẩm số: 43/2025/HS-ST ngày 16/4/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi (nay là Toà án nhân dân khu vực 1 – Quảng Ngãi).
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Hủy hoại tài sản”.
Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 178; điểm i khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn V 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh Q nhận được Quyết định thi hành án.
Ngày 28/4/2025 bị cáo Nguyễn Văn V kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm xin giảm nhẹ hình phạt và huỷ bản án; ngày 29/5/2025, bị cáo Nguyễn Văn V có đơn bổ sung nội dung kháng cáo với nội dung: Bị cáo không phạm tội huỷ hoại tài sản, đề nghị huỷ bản án sơ thẩm.
Tại phiên toà, bị cáo giữ nguyên kháng cáo với nội dung bị cáo không phạm tội, đề nghị huỷ bản án sơ thẩm.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi về việc giải quyết vụ án:
Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Văn V về tội “Hủy hoại tài sản” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Bị cáo kháng cáo với nội dung bị cáo không phạm tội, đề nghị huỷ bản án sơ thẩm là không có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, 356 không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn V, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 43/2025/HS-ST ngày 16/4/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi (nay là Toà án nhân dân khu vực 1 – Quảng Ngãi).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi của bị cáo:
Xuất phát từ việc tranh chấp chia di sản thừa kế giữa bà Nguyễn Thị Xuân T với Nguyễn Văn V đối với thửa đất số 637, tờ bản đồ số 6, địa chỉ: Tổ dân phố Q, Phường T, thành phố Q. Việc tranh chấp chia di sản thừa kế đã được Toà án nhân dân các cấp xét xử và bản án đã có hiệu lực pháp luật.
Sau khi bà Nguyễn Thị Xuân T có đơn yêu cầu Thi hành án, ngày 23/3/2022 Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi đã ban hành các quyết định số 218, 219/QĐ- CTHADS về việc Thi hành án theo đơn yêu cầu của bà T, bị cáo Nguyễn Văn V có điều kiện thi hành án, nhưng không tự nguyện thi hành án ngày 14/9/2022 Chấp hành viên đã ban hành Quyết định số 25/QĐ-CTHADS về việc cưỡng chế (đối với Nguyễn Văn V) về việc chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cho bà T thuộc thửa đất 637 tờ bản đồ 6, Phường T (như Quyết định của Toà án) và Quyết định số 26/QĐ- CTHADS ngày 15-9-2022 về việc buộc thực hiện công việc theo bản án, tuy nhiên, bị cáo V đã không chấp hành. Ngày 29/9/2022 Cục Trưởng Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi đã ban hành Quyết định số 306/QĐ-CTHADS về việc xử phạt vi phạm hành chính đối với bị cáo V.
Đối với phần đất và tài sản được phân chia theo bản án của Toà án, bà Nguyễn Thị Xuân T đã chôn trụ cột bê tông và kéo lưới B40, vào khoảng 23 giờ ngày 23/11/2022 bị cáo Nguyễn Văn V đã có hành vi tháo gỡ lưới B40, nhổ 16 trụ cột bê tông, làm gãy 05 trụ bê tông không thể sử dụng lại được, tài sản bị thiệt hại 1.800.000 đồng. Tài sản này là của bà T dùng để phân chia ranh giới đất giữa bà T với bị cáo V. Sự việc trên đã được bà T trình báo đến Công an Phường T. Ngày 08/12/2022 Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Q ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với bị cáo Nguyễn Văn V về hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản và phạt 4.000.000 đồng tại Quyết định xử phạt số 336/QĐ-XPHC ngày 08/12/2022, bị cáo Nguyễn Văn V đã không chấp hành quyết định xử phạt.
Cuối năm 2023, bà T thuê người tiếp tục chôn trụ bê tông và xây tường bằng gạch 06 lỗ, không tô trát, trên phần đất được phân chia cho bà. Vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 03/02/2024, bị cáo Nguyễn Văn V tiếp tục có hành vi dùng búa đập bể bờ tường được xây gạch và xi măng của bà T đã xây dựng, có kích thước (2,16 x 1,36) m để làm lối đi. Giá trị tài sản bị thiệt hại 666.000 đồng.
Ngày 28/3/2024 bà T đã lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất toàn bộ diện tích đất được phân chia tại bản án cho bà Nguyễn Thị T1 (chỉnh lý biến động sang tên cho bà T1 vào ngày 04/4/2024).
Khoảng 14 giờ 45 phút ngày 21/4/2024, bị cáo V tiếp tục dùng cây xà beng đập bể bờ tường xây bằng gạch 06 lỗ và xi măng một đoạn dài 3m, có 07 lớp gạch (tính được 100 viên gạch 06 lỗ bị vỡ), một đoạn tường dài 2,85m, có 03 lớp gạch (tính được 40 viên gạch 06 lỗ bị vỡ). Giá trị tài sản bị thiệt hại 743.600đồng.
Về tội danh:
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm, bị cáo kêu oan, không thừa nhận hành vi phạm tội. Tuy nhiên, lời khai ban đầu của bị cáo tại bản tự khai ngày 05/01/2024, bị cáo khai: “Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 03/02/2024 vì bức xúc bà T em gái của tôi xây dựng hàng rào trái luật ngăn cản việc đi thắp nhang tại Miếu thờ của nhà tôi nên tôi đã dùng búa đập bể tường rào lấy lối đi, tôi vứt búa ở đâu tôi không xác định rõ sau khi sử dụng xong”.
Tại biên bản ghi lời khai ngày 05/02/2024, bị cáo khai: “Tôi dùng búa đóng đinh cầm tay để đập bờ tường trên. Khi công an phường đến hiện trường tôi vứt búa đi đâu không rõ, hiện nay không tìm được chiếc búa”;“qua sự việc trên tôi nhận thấy hành vi đập phá tường rào của mình là sai với quy định pháp luật, vì bức xúc bà T xây dựng bờ rào trái phép”
Tại biên bản ghi lời khai ngày 22/4/2024, bị cáo khai: “Vào khoảng 14 giờ 45 ngày 21/4/2024, tôi ở nhà riêng tại TDP Q, P. T, TP. Vì bức xúc một nhóm người không rõ đến xây dựng bờ rào bằng gạch để ngăn cách mảnh đất của tôi, tôi đã nhiều lần gửi đơn cho các cơ quan chức năng về việc này và đề nghị giải quyết vấn đề liên quan đất đai nhưng chưa được giải quyết nên tôi đã dùng cây xà beng đập vỡ khoảng tường trên bức tường gạch đó”.
Lời khai của ban đầu của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác, phù hợp với kết luận định giá tài sản. Bản thân bị cáo biết rằng vụ án tranh chấp chia di sản thừa kế đã được Toà án nhân dân các cấp xét xử và bản án đã có hiệu lực pháp luật, em gái của bị cáo là bà Nguyễn Thị Xuân T được giao quyền quản lý, sử dụng, định đoạt 870m2 đất, bà T toàn quyền được phép xây dựng vật kiến trúc trên đất nhưng bị cáo vẫn cố ý dùng búa, xà beng đập vỡ các khoảng tường mà bà T đã xây dựng là vi phạm pháp luật.
Bị cáo đã bị Chủ tịch UBND thành phố Q xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản của cá nhân”, bị cáo chưa nộp phạt, chưa được xem là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng lại tiếp tục hành vi vi phạm pháp luật. Do đó, việc kêu oan của bị cáo là không có cơ sở.
Tuy nhiên, hành vi của bị cáo V chỉ làm giảm giá trị sử dụng của tài sản là bức tường mà bà T xây dựng, bức tường này có thể sửa chữa, phục hồi đối với phần bị hư hỏng để tiếp tục sử dụng. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn V có dấu hiệu của tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Vì vậy, việc điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm bị cáo Nguyễn Văn V về tội “Hủy hoại tài sản” là chưa chính xác. Tuy nhiên, đây là tội ghép nên Toà án vẫn có thể xét xử bị cáo về tội ‘Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Về áp dụng pháp luật:
Bị cáo Nguyễn Văn V 02 lần thực hiện hành vi dùng búa, xà beng đập vỡ các khoảng tường của bị hại, mỗi lần phạm tội đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Cấp sơ thẩm không áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên đối với bị cáo là thiếu sót, từ đó áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” đối với bị cáo là không đúng dẫn đến áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo là không đúng pháp luật.
Như nhận định tại mục [2] và mục [3] của Bản án này, xét thấy Bản án sơ thẩm có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật nhưng không thuộc trường hợp Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử huỷ bản án hình sự sơ thẩm số: 43/2025/HS-ST ngày 16/4/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi (nay là Toà án nhân dân khu vực 1 – Quảng Ngãi) để xét xử lại theo thủ tục chung.
Do huỷ bản án sơ thẩm nên Hội đồng xét xử không xem xét nội dung kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn V.
Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn V không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 355; điểm đ khoản 1 Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Hủy bản án hình sự sơ thẩm số: 43/2025/HS-ST ngày 16/4/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi (nay là Toà án nhân dân khu vực 1 – Quảng Ngãi), chuyển hồ sơ cho Toà án nhân dân Khu vực 1 – Quảng Ngãi để xét xử lại theo thủ tục chung.
2. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn V không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND, TAND KV1 – Quảng Ngãi; - Phòng HSNV- Công an tỉnh Quảng Ngãi; - Phòng Thi hành án dân sự KV1 – Quảng Ngãi; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thị Mỹ Giang |