- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? C n cứ Điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Huỳnh Anh K, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2025/HSST ngày 18 tháng 3 n m 2025 của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh.
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 81/2025/HS-PT Ngày: 30/5/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Dũng
Các Thẩm phán: Ông Lê Minh Tuấn và ông Nguyễn Lê Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Vi Thị Yến - Thư ký Toà án của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Đỗ Ngọc Bích - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 n m 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bình Thuận, x t xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 55/2025/TLPT-HS ngày 22 tháng 4 n m 2025 đối với bị cáo Võ Huỳnh Anh K do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2025/HSST ngày 18 tháng 3 n m 2025 của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh.
- Bị cáo có kháng cáo: Võ Huỳnh Anh K, sinh n m 1987 tại Bình Thuận; nơi cư trú: Thôn 8, xã M, huyện T, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Thợ sơn nước; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ V n H (chết) và bà Huỳnh Thị Ngọc L1; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ng n chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, vắng mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Ông Lê Tiến D, sinh n m 1954 (có mặt)
Địa chỉ: Tổ 5, Thôn 2, xã Đ, huyện T; tỉnh Bình Thuận;
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị L, sinh n m 1977 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn 7, xã Nghị Đ, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 11/09/2024, ông Lê Tiến D đến rẫy điều thuộc thôn 7, xã Nghị Đ, huyện T của bà Lê Thị L để phun thuốc diệt cỏ, dọn rẫy cho bà Liểu. Trong lúc ông D đang làm việc thì Võ Huỳnh Anh K biết được sự việc trên. Do có quan hệ tình cảm với bà Liểu nên Khoa tức giận. Khoa điều khiển xe mô tô chạy đến rẫy điều của bà Liểu để ng n cản không cho ông D xịt thuốc. Khi đến rẫy điều của bà Liểu thì Khoa dừng xe lại, đi bộ đến chỗ ông D đang đứng pha thuốc và yêu cầu ông D đi về, không được bơm thuốc nữa, sau đó hai bên cãi nhau. Khoa rút cây sắt tròn có đường kính khoảng 2cm, dài khoảng 40cm để trong giỏ đồ nghề dùng bẫy sóc đang cầm theo bên người ra rồi cầm bằng tay phải đánh từ trên xuống 01 cái trúng đỉnh đầu của ông D, ông D liền dùng tay ôm đầu lại. Khoa tiếp tục cầm cây tuýp đánh từ trên xuống 02 cái trúng bàn tay trái và khuỷu tay phải của ông D. Lúc này chị Liểu và ông D ôm vật Khoa xuống đất, ông D lấy được cây sắt Khoa đang cầm ném xuống suối gần rẫy bà Liểu. Sau khi bị đánh, ông D tự chạy xe mô tô đi cơ sở y tế để cấp cứu. Ngày 27/10/2024, ông D có đơn yêu cầu giải quyết hành vi gây thương tích của Võ Huỳnh Anh K.
Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 27/KLTTCT-TTGDYKPYBT, ngày 26/11/2024 của Trung tâm giám định Y khoa
- Pháp y tỉnh Bình Thuận kết luận đối với thương tích của ông Lê Tiến D, cụ thể:
- Sẹo vết thương vùng đỉnh đầu phải kích thước nhỏ: (3×0,1) cm, do vật tày tác động theo chiều hướng từ trên xuống dưới. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 1%;
- Sẹo vết thương mặt sau khuỷu tay phải kích thước nhỏ: (1,5×0,2) cm, do vật tày tác động trực tiếp gây ra. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 1%;
- Chấn thương bàn tay trái gãy xương bàn V bàn tay trái hiện can xương chưa hoàn toàn, xương gập góc; Seo vết thương mặt mu bàn tay trái kích thước nhỏ: (0,7×0,4) cm; Hiện bàn tay trái vận động không hạn chế; Do vật tày tác động trực tiếp gây ra. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 6% +1%;
- Gãy mỏm khuỷu xương trụ phải can xương chưa hoàn toàn, xương di lệch, không phải gãy mỏm vẹt như ghi nhận trong giấy chứng nhận thương tích do Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Tánh Linh cung cấp. Không đủ cơ sở xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể.
Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Lê Tiến D tại thời điểm giám định là: 9% (Chín phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư”.
Tại bản Kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 93/KLTTCT-TTGDYKPYBT, ngày 10/01/2025 của Trung tâm giám định Y khoa
- Pháp y tỉnh Bình Thuận kết luận bổ sung đối với thương tích của ông Lê Tiến D:
- Vết thương – chấn thương mặt sau khuỷu tay phải gãy mỏm khuỷu tay phải hiện xương di lệch, hạn chế vận động gấp – duỗi khuỷu tay phải, khuỷu phải gấp 90o, duỗi 135o. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 11%. Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Lê Tiến D tại thời điểm giám định bổ sung và tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người số 27/KLTTCT-TTGĐYKPYBT ngày 26/11/2024 của Trung tâm Giám định Y khoa – Pháp y tỉnh Bình Thuận là 1% + 1% + 6% + 1% + 11% = 19% (một chín phần trăm) áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
Về phần dân sự: Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo đã bồi thường được 22.500.000đồng cho bị hại. Bị hại yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền là 10.000.000đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2025/HSST ngày 18 tháng 3 năm 2025 và Thông báo sửa chữa, bổ sung bản án số 17a/TB-TA ngày 11/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh đã quyết định:
C n cứ vào điểm a, i khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự n m 2015: Tuyên bố bị cáo Võ Huỳnh Anh K phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Về hình phạt: C n cứ vào điểm a, i khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự n m 2015.
Xử phạt bị cáo Võ Huỳnh Anh K 02 (hai) n m tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.
3. Về trách nhiệm dân sự: C n cứ vào các Điều 584, 585, 586 và 590; khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự 2015.
Buộc bị cáo Võ Huỳnh Anh K phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho ông Lê Tiến D số tiền 10.000.000 đồng.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên quyết định khác về xử lý vật chứng, án phí, nghĩa vụ thi hành án và thông báo quyền kháng cáo cho những người tham gia tố tụng biết.
Ngày 25 tháng 3 n m 2025, bị cáo Võ Huỳnh Anh K kháng cáo xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo Võ Huỳnh Anh K đã được trieuj tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do.
Bị hại đề nghị Hội đồng x t xử giải quyết theo quy định.
- Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận:
Về thủ tục tố tụng: Bị cáo có kháng cáo đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên đề nghị Hội đồng x t xử c n cứ điểm c khoản 1 Điều 351 của Bộ luật tố tụng hình sự x t xử theo quy định.
Về kháng cáo của bị cáo: Chỉ vì ghen tuông vô cớ mà bị cáo đã có hành vi dùng hung khí nguy hiểm gây thường tích cho bị hại với tỉ lệ tổn thương cơ thể là 19%, hành vi của bị cáo thể hiện tính hung hãn, xem thường sức khỏe của người khác. Vì vậy cấp sơ thẩm đã áp dụng điểm a, i khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo phạm tội “Cố ý gây thuơng tích” và xử phạt bị cáo mức án 02 n m tù là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ mới nên đề nghị Hội đồng x t xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 17/2025/HSST ngày 18 tháng 3 n m 2025 của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, c n cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng x t xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của bị cáo Võ Huỳnh Anh K làm trong hạn luật định nên được Hội đồng x t xử xem x t giải quyết theo thủ tục x t xử phúc thẩm.
C n cứ vào lời khai nhận của bị cáo, lời khai của bị hại tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án và bị cáo, Hội đồng x t xử phúc thẩm nhận thấy, vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 11/09/2024, tại khu vực rẫy điều của chị Lê Thị L ở thôn 7, xã Đ, huyện T; bị cáo đã có hành vi dùng cây tuýp sắt tròn đường kính khoảng 2cm, dài khoảng 40cm đánh trúng 01 cái vào đỉnh đầu và 02 cái trúng bàn tay trái và khuỷu tay phải của ông Lê Tiến D gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 19% nên Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tich” theo quy định tại điểm a, i khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự là có c n cứ và đúng pháp luật.
Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo, Hội đồng x t xử x t thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem x t các tình tiết giảm nhẹ như thành khẩn khai báo, n n n hối cải, tự nguyện bồi thường cho bị hại, bị hại xin giải nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hành vi sử dụng đoạn tuýp sắt tròn đường kính khoảng 2cm, dài khoảng 40cm là hung khi nguy hiểm gây thương tích cho người khác của bị cáo thể hiện tính côn đồ, hung hãn, xem thường tính mạng, sức khỏe của người khác nên cấp sơ thẩm đã tuyên phạt bị cáo 02 n m tù là tương xứng với hành vi bị cáo đã thực hiện. Hành vi của bị cáo có tính chất côn đồ nên không đủ điều kiện để cho bị cáo được hưởng án treo, việc bị cáo cho rằng mình là lao động chính và phải ch m lo mẹ già nhưng đây không phải là tình tiết giảm nhẹ để xem x t cho bị cáo, hơn nữa trong gia đình bị cáo thì còn có những chị, em khác để ch m sóc cho mẹ già. Quá trình giải quyết tại cấp phúc thẩm thì bị cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ gì mới nên không có c n cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên Võ Huỳnh Anh K phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Các quyết định khác của bản án không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, Hội đồng x t xử không xem x t.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
C n cứ Điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Huỳnh Anh K, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2025/HSST ngày 18 tháng 3 n m 2025 của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh.
1. Tuyên bố: Bị cáo Võ Huỳnh Anh K phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
C n cứ vào các điểm a, i khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Võ Huỳnh Anh K 02 (hai) n m tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
2. Về dân sự: C n cứ Điều 584, 585, 586 và 590 của Bộ luật dân sự.
Buộc bị cáo Võ Huỳnh Anh K phải tiếp tục bồi thường cho bị hại ông Lê Tiến D số tiền 10.000.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
3. Về án phí: Điểm a, c khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Võ Huỳnh Anh K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 500.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo Võ Huỳnh Anh K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Án có hiệu lực theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (30/5/2025).
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Thuận; - TAND huyện Tánh Linh; - VKSND huyện Tánh Linh; - Chi cục THADS huyện Tánh Linh; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Thuận; - Những người tham gia tố tụng; - PV06 – Công an tỉnh Bình Thuận; - Lưu: Hồ sơ, Tổ HCTP; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Anh Dũng |