vanban.org

Bản án 81/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn bà Lê Thị Ánh T được ly hôn với bị đơn ông Lê Văn T1 .

Về con chung: Bà Lê Thị Ánh T được quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Lê An N, sinh ngày 01/6/2021. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Lê Thị Ánh T về việc không yêu cầu ông Lê Văn T1 thực hiện nghĩa vụ. Các đương sự đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung. Ông Lê Văn T1 đư… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn bà Lê Thị Ánh T được ly hôn với bị đơn ông Lê Văn T1 .
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 18
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 81/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 28-11-2025
V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 18 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Phước Thành Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Thành Tâm; 2. Ông Lương Thanh Nhàn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 18 – Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 28 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 18 – Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 533/2025/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2025 về việc: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2025/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự: -

Nguyên đơn: Bà Lê Thị Ánh T, sinh năm 1989 Địa chỉ thường trú: Số 3, đường XB2, tổ 14, khu phố M, phường B, Tp.H. -

Bị đơn: Ông Lê Văn T1, sinh năm 1987 Địa chỉ thường trú: Khu phố C, phường B, Tp.H Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại Tạm giam khu vực B – Trại Tạm giam B. (Các đương sự đều có yêu cầu xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo Đơn khởi kiện và quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Lê Thị Ánh T trình bày: Bà Lê Thị Ánh T và ông Lê Văn T1 tự nguyện chung sống thực tế, có đăng ký kết hôn ngày 05/5/2020 tại UBND xã L, huyện B, tỉnh B (nay là UBND phường B, Tp.H). Quá trình sống chung, vợ chồng có 01 con chung là cháu Lê An N, sinh ngày 01/6/2021. Thời gian đầu vợ chồng chung sống rất hạnh phúc. Đến thời gian gần đây, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã và không còn quan tâm, chăm sóc nhau. Do tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên bà T có yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với ông Lê Văn T1

- Về con chung: Yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Lê An N, sinh ngày 01/6/2021

- Về cấp dưỡng nuôi con: Tự nguyện không yêu cầu ông Lê Văn T1 thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà T cũng có yêu cầu được vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng. 2. Tại Đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 24/11/2025, bị đơn ông Lê Văn T1 trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông đồng ý ly hôn với bà Lê Thị Ánh T.

- Về con chung: Ông đồng ý giao cháu Lê An N, sinh ngày 01/6/2021 cho bà Lê Thị Ánh T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông không phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Các đương sự có tranh chấp về ly hôn và nuôi con. Bị đơn ông Lê Văn T1 có địa chỉ cư trú tại khu phố C, phường B, Tp.H, nên TAND khu vực 19 – Thành phố Hồ Chí Minh chuyển hồ sơ vụ án đến TAND khu vực 18 – Thành phố Hồ Chí Minh để thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền (theo quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015). [2]. Về việc vắng mặt của các đương sự tại phiên tòa: Xét nguyên đơn và bị đơn đã có ý kiến trình bày đầy đủ và xin giải quyết vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng. Do đó, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự (theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015). [3]. Về nội dung vụ án: Bà Lê Thị Ánh T và ông Lê Văn T1 tự nguyện chung sống thực tế, có đăng ký kết hôn ngày 05/5/2020 tại UBND xã L, huyện B, tỉnh B (nay là UBND phường B, Tp.H). Do vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông T1 là hợp pháp. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn vì mâu thuẫn vợ chồng đã quá trầm trọng, không thể hàn gắn được. Bị đơn cũng thống nhất xác định mâu thuẫn các bên đã trầm trọng và cũng đồng ý ly hôn. Như vậy, yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn là có cơ sở, được HĐXX chấp nhận. Về con chung: Các đương sự đã thống nhất được với nhau. Do vậy, cần giao cho bà Lê Thị Ánh T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Lê An N, sinh ngày 01/6/2021. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Lê Thị Ánh T về việc không yêu cầu ông Lê Văn T1 thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không tranh chấp, nên HĐXX không xem xét giải quyết. [4]. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn bà Lê Thị Ánh T phải chịu theo quy định. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều: 28, 35, 39, 147, 227, 228, 266 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ các Điều: 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Ánh T đối với bị đơn ông Lê Văn T1 về việc: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn bà Lê Thị Ánh T được ly hôn với bị đơn ông Lê Văn T1 .

- Về con chung: Bà Lê Thị Ánh T được quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Lê An N, sinh ngày 01/6/2021.

- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Lê Thị Ánh T về việc không yêu cầu ông Lê Văn T1 thực hiện nghĩa vụ. Các đương sự đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung. Ông Lê Văn T1 được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền cản trở. Khi cần thiết, vì lợi ích của con chung, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không tranh chấp, không đặt ra xem xét. 2. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn bà Lê Thị Ánh T phải nộp số tiền 300.000 đồng, được khấu trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0006421 ngày 30/5/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 19 - Thành phố Hồ Chí Minh). 3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều: 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ