vanban.org

Bản án 81/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Cẩm T.

1. Về hôn nhân: bà Nguyễn Thị Cẩm T được ly hôn với ông Trần Văn L. 2. Về con chung: có 02 con chung tên là Trần Tấn P, sinh ngày 17/10/2013 và Trần Tấn Đ, sinh ngày 22/12/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Cẩm T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THOẠI SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 81/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 23 - 5 - 2025
V/v “Ly hôn, tranh chấp
về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Trần Văn Hân Em.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Minh Thắng.

2. Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung.

- Thư ký phiên toà: bà Đặng Huỳnh Hoa Lý - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Diệu - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 57/2025/TLST-HNGĐ ngày 21/02/2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 22/4/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 53/2025/QĐST-HNGĐ ngày 07/5/2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị Cẩm T, sinh năm 1993 (có mặt).

Địa chỉ: khóm B, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang.

2. Bị đơn: ông Trần Văn L, sinh năm 1991 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp H, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai ngày 18/4/2025, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm T (sau đây gọi là bà T) trình bày: sau thời gian tự tìm hiểu, bà T với ông Trần Văn L (sau đây gọi là ông L) sống chung từ năm 2012, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (UBND) thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang vào 09/01/2013. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc và sinh được 02 con chung tên Trần Tấn P, sinh ngày 17/10/2013 và Trần Tấn Đ, sinh ngày 22/12/2022. Khoảng tháng 6 năm 2024 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, do ông L không lo làm ăn, ghen tuông vô cớ, nhiều lần chửi mắng bà T, từ đó mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng. Mặc dù được cha mẹ hai bên hòa giải nhưng ông L không thay đổi nên vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 12 năm 2024 cho đến nay. Quá trình chung sống vợ chồng không có tài sản chung và không có nợ chung.

Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên bà T yêu cầu được ly hôn với ông L; về con chung, do cháu Trần Tấn P và Trần Tấn Đ đang sống chung với bà T nên bà yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu P và cháu Đ, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con; tài sản chung và nợ chung không có.

Bị đơn ông Trần Văn L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công trực tiếp giải quyết vụ án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về việc thụ lý, về thời hạn giải quyết vụ án, về việc chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nghiên cứu để tham gia xét xử. Tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các điều 70, 71; bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên đã vi phạm các điều 70 và 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung giải quyết vụ án: qua xem xét toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các điều 8, 9, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên: chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Cẩm T.

+ Về hôn nhân: bà Nguyễn Thị Cẩm T được ly hôn với ông Trần Văn L.

+ Về con chung: giao con chung tên là Trần Tấn P, sinh ngày 17/10/2013 và Trần Tấn Đ, sinh ngày 22/12/2022 cho bà Nguyễn Thị Cẩm T trực tiếp nuôi dưỡng; ông L không phải cấp dưỡng nuôi con.

+ Về tài sản chung và nợ chung: không xem xét, giải quyết.

+ Về án phí: bà T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: theo đơn khởi kiện, bà T yêu cầu ly hôn với ông L, đồng thời yêu cầu giải quyết việc nuôi con. Vì vậy, quan hệ tranh chấp của vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn ông Trần Văn L có nơi cư trú tại xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông Trần Văn L đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa. Tuy nhiên, các lần triệu tập ông L đều vắng mặt, không lý do. Do vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông L theo thủ tục chung.

Về quan hệ hôn nhân: bà T và ông L tiến đến hôn nhân vào năm 2012, có đăng ký kết hôn nên được UBND thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 02/2013, ngày 09/01/2013. Vì vậy, quan hệ hôn nhân của bà T và ông L phù hợp với quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình nên được pháp luật công nhận là vợ chồng.

Xét yêu cầu ly hôn của bà T thấy rằng, bà T và ông L sống hạnh phúc thời gian đầu nhưng đến tháng 6 năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Bà T cho rằng, ông L không lo làm ăn, không quan tâm đến gia đình, từ đó vợ chồng thường xuyên cãi vã. Mặc dù được gia đình 02 bên hòa giải nhưng bà T và ông L vẫn ly thân, bỏ mặc nhau từ tháng 12 năm 2024 cho đến nay.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhiều lần tống đạt hợp lệ cho ông L thông báo hòa giải, nhằm tạo điều kiện cho ông L và bà T hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng ông L đều vắng mặt, không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến gửi đến Tòa án. Tại phiên tòa, bà T xác định không còn tình cảm vợ chồng nên vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông L.

Từ những nhận định nêu trên, xét thấy tình trạng hôn nhân giữa bà T và ông L mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T.

Về quan hệ con chung: bà T và ông L có 02 con chung tên là Trần Tấn P, sinh ngày 17/10/2013 và Trần Tấn Đ, sinh ngày 22/12/2022. Bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy, việc giao con cho ai nuôi cần xem xét quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên. Cháu P và cháu Đ đang sống chung với bà T và học hành ổn định. Tại biên bản ghi nhận nguyện vọng của cháu P ngày 11/4/2025 thì cháu P muốn sống chung với mẹ. Do vậy, để không xáo trộn cuộc sống và tạo điều kiện cho sự phát triển thể chất, tinh thần của các cháu, căn cứ vào Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử giao cháu P và cháu Đ cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Bà T không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét. Bà T cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông L trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con.

Về tài sản chung và nợ chung: không có nên không xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: bà T yêu cầu ly hôn nên phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Xét, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 8, 9, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Cẩm T.

1.1. Về hôn nhân: bà Nguyễn Thị Cẩm T được ly hôn với ông Trần Văn L.

1.2. Về con chung: có 02 con chung tên là Trần Tấn P, sinh ngày 17/10/2013 và Trần Tấn Đ, sinh ngày 22/12/2022.

Giao cháu Trần Tấn P và cháu Trần Tấn Đ cho bà Nguyễn Thị Cẩm T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục (cháu P và cháu Đ đang sống chung với bà T). Ông L không phải cấp dưỡng nuôi con, do bà T không yêu cầu.

Bà Nguyễn Thị Cẩm T cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Trần Văn L trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, của cơ quan có thẩm quyền thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

1.3. Về tài sản chung và nợ chung: không có.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: bà Nguyễn Thị Cẩm T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0021684 ngày 21/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang (bà T đã nộp đủ).

3. Về quyền kháng cáo: đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ