- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "H Ng - Y S"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà H’ Ng Adrơng.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 81/2025/HNGĐ-ST Ngày: 29 – 9 - 2025 V/v tranh chấp ly hôn và con chung |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐẮK LẮK
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hoài Trang
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hoàng Diệu, ông Nguyễn Tiến Dũng
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Thùy Linh – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 1 – Đắk Lắk.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Đắk Lắk: Ông Đào Anh Vũ – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2025, tại phòng xử án, Toà án nhân dân khu vực 1 – Đắk Lắk, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 43/2025/TLST- HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn và con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2025/QĐXXST–HNGĐ ngày 20 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 58/2025/QĐST – HNGĐ ngày 12 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà H’ Ng Adrơng (Có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Buôn C, xã E, thành phố B, (nay là Phường E), tỉnh Đắk Lắk
- Bị đơn: Ông Y Simôn B (Vắng mặt)
Địa chỉ: Buôn T, xã E, thành phố B (nay là Phường E), tỉnh Đắk Lắk
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, tại bản tự khai nguyên đơn bà H’ Ng Adrơng trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Vợ chồng tôi kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 30/6/2017 tại Ủy ban nhân dân xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Nay là phường E, tỉnh Đắk Lắk)
Trong quá trình chung sống vợ chồng tôi sống hạnh phúc được thời gian đầu thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, không hòa hợp, vợ chồng không có tiếng nói chung, không thể hòa giải được. Nay tôi xác định tình cảm vợ chồng không còn nên xin ly hôn.
Về con chung: Có 01 con chung là cháu H Ngân Adrơng – sinh ngày 06/01/2016. Tôi có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu cấp dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: Không đề nghị Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn ông Y Simôn B vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Đắk Lắk phát biểu ý kiến: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của bà H’ Ng Adrơng. Về quan hệ hôn nhân: Bà H’ Ng Adrơng được ly hôn với ông Y Simôn B. Về con chung: Giao cháu H Ngân A – sinh ngày 06/01/2016 cho bà H’ Ng Adrơng thăm nom chăm sóc con chung cho đến khi cháu đủ tuổi thành niên.
Ông Y Simôn B được quyền thăm nom chăm sóc con chung mà không ai có quyền cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà H’ Ng Adrơng yêu cầu ly hôn với ông Y Simôn B, địa chỉ cư trú tại phường E, tỉnh Đắk Lắk. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, thì đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn và con chung” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đắk Lắk.
Nguyên đơn bà H’ Ng Adrơng và bị đơn ông Y Simôn B đã được Tòa án tiến hành triệu tập hợp lệ, bà H’ Ng Adrơng có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Y Simôn B vắng mặt không lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Bà H’ Ng Adrơng và ông Y Simôn B tự nguyện tìm hiểu, đủ điều kiện kết hôn và đã đăng ký kết hôn vào ngày 15/4/2016 tại Ủy ban nhân dân xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Nay là phường E, tỉnh Đắk Lắk) trên cơ sở tự nguyện nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Bà H’ Ng Adrơng và ông Y Simôn B chung sống hạnh phúc với nhau được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là vợ chồng bất đồng quan điểm, không hợp nhau, không có tiếng nói chung.
Qua xác minh tại chính quyền địa phương thể hiện quá trình chung sống tại địa phương bà H’ Ng Adrơng và ông Y Simôn B có xảy ra mâu thuẫn nên ông Y S đã chuyển về nhà tại buôn T để sinh sống, về nguyên nhân mâu thuẫn do bà H’ Ng Adrơng và ông Y Simôn B không yêu cầu hòa giải cơ sở nên địa phương không nắm được.
Hội đồng xét xử xét thấy, quan hệ hôn nhân được xây dựng trên cơ sở tự nguyện của hai bên, việc bà H’ Ng Adrơng xét thấy không còn tình cảm với ông Y Simôn B, vợ chồng không có tiếng nói chung trong cuộc sống, dẫn đến mâu thuẫn cuộc sống kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận đơn xin ly hôn của bà H’ Ng Adrơng.
Về con chung: Trong quá trình chung sống, bà H’ Ng Adrơng và ông Y Simôn B có 01 con chung là H Ngân Adrơng – sinh ngày 06/01/2016. Bà H’ Ng Adrơng có nguyện vọng được chăm sóc con chung, cháu H N cũng có nguyện vọng được ở với mẹ. Hội đồng xét xử xét thấy để phù hợp với thực tế và đảm bảo được quyền và lợi ích của con chung nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình giao con chung cháu H Ngân Adrơng – sinh ngày 06/01/2016 cho bà H’ Ng Adrơng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn bà H’ Ng Adrơng phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm a khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ: Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Căn cứ: Điểm a Khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà H’ Ng Adrơng.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà H’ Ng Adrơng được ly hôn với ông Y Simôn B.
2. Về con chung:
Giao cháu H Ngân Adrơng – sinh ngày 06/01/2016 cho ông Y Simôn B trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi thành niên (đủ 18 tuổi).
Các đương sự được quyền thăm nom chăm sóc con chung mà không ai có quyền cản trở.
3. Về cấp dƣỡng nuôi con chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
5. Về án phí: Bà H’ Ng Adrơng phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2023/0011162 ngày 16/6/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk (Nay là Thi hành án dân sự khu vực 1).
Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND khu vực 1 – Đắk Lắk; - THADS tỉnh Đắk Lắk; - Đương sự; - UBND phường Ea Kao; - Lưu hồ sơ tại tòa án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Hoài Trang |