vanban.org

Bản án 81/2024/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hai Bà Trưng, TP. Hà Nội Tuyên án 24/04/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt: Bị cáo Lò Văn N 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/12/2023. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HAI BÀ TRƯNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
-------------------
Bản án số: 81/2024/HS-ST
Ngày 24/4/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Đặng Hoàng Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Bích Hợp

Bà Hoàng Thị Thiệu

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Ngô Hoàng Hà

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng tham gia phiên tòa: Ông Đào Hải Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại Điểm cầu trung tâm - Phòng xét xử trực tuyến tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và Đ cầu thành phần – Phòng xét xử trực tuyến tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố H; xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 65/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2024 đối với: Bị cáo Lò Văn N; tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Trình độ văn hóa: 7/12; Sinh năm: 2002 tại: Điện Biên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; HKTT: Bản C, xã Ẳ, huyện M, tỉnh Điện Biên; Nơi ở: Lang thang; Con ông: Lò Văn H – sinh năm 1980; Con bà: Lò Thị L - sinh năm: 1982. Gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ hai. Tiền án tiền sự: Không.

Bị cáo Lò Văn N bị bắt quả tang ngày 28/12/2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H (Có mặt tại phiên toà).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do bản thân nghiện ma túy, khoảng 21h30’ ngày 28/12/2023, Lò Văn N đi đến khu vực ngã ba phố H, phường B, quận H, thành phố Hà Nội, mua của một người phụ nữ không quen biết 01 gói Heroin kích thước 01x01cm, bên ngoài bọc giấy với giá 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). N cất gói ma tuý vừa mua được vào trong túi quần phía trước bên trái đang mặc và đi tìm nơi sử dụng. Khoảng 22h cùng ngày, khi đi đến khu vực trước cửa số nhà A ngõ I Hồ N, phường B, quận H, thành phố Hà Nội thì bị tổ công tác Công an phường B yêu cầu kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, N tự lấy 01 gói ma túy từ túi quần phía trước bên trái N đang mặc giao nộp và khai nhận là ma túy H1, bản thân cất dấu để sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản tạm giữ, niêm phong tang vật, đưa N về trụ sở Công an phường B để xác minh, xử lý.

Cơ quan Công an đã tiến hành xét nghiệm ma túy đối với N, kết quả: Nam dương tính với ma túy.

Ngày 29/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận H ra Quyết định trưng cầu giám định số ma túy thu giữ của Lò Văn N.

Tại bản kết luận giám định số 192/KLGĐ-PC09 ngày 05 tháng 01 năm 2024 của Phòng K - Công an Thành phố H, kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 (Một) gói giấy là ma túy loại Heroine, có khối lượng: 0,134gam.

Quá trình điều tra, Lò Văn N khai nhận nội dung vụ việc như đã nêu trên, lời khai của N phù hợp với các tài liệu chứng cứ Cơ quan Điều tra thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án. Đối với người phụ nữ bán ma túy, do N khai không biết tên thật và địa chỉ, kết quả dẫn giải N xác định địa điểm mua ma túy tại khu vực ngã ba phố H, phường B, quận H, thành phố Hà Nội, nhưng không xác định được người phụ nữ đã bán ma túy cho N nên Cơ quan Điều tra không có căn cứ để xác minh, xử lý.

Tại bản Cáo trạng số 50/CT-VKS-HS ngày 27/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng truy tố Lò Văn N về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn N giữ nguyên lời khai như tại cơ quan điều tra, thừa nhận nội dung, tội danh mà Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng và xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố Lò Văn N và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lò Văn N với mức án từ 12 tháng đến 18 tháng tù; Hình phạt bổ sung: Không áp dụng; Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) bì niêm phong nguyên vẹn, bên trong có 01 gói giấy kích thước khoảng (1x1) cm bên trong có chứa chất bôt màu trắng, sau khi giám định là ma túy loại Heroin, khối lượng 0,134 gam, bên ngoài có chữ ký giám định viên và Lò Văn N.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Công an quận H, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn N không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Xét lời khai của bị cáo Lò Văn N tại phiên tòa thống nhất với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 22 giờ 00’ ngày 28/12/2023, tại khu vực trước cửa số nhà A ngõ I phố H, phường B, quận H, Hà Nội, Lò Văn N có hành vi tàng trữ trái phép 0,134 gam Heroine với mục đích để sử dụng thì bị Công an phát hiện, bắt giữ.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm quyền kiểm soát và quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, mà còn là nguyên nhân làm gia tăng các loại tội phạm về ma túy và tệ nạn xã hội khác, gây mất trật tự trị an, gây bất bình và tâm lý lo lắng trong nhân dân. Ma túy đang là mối hiểm họa cho mỗi gia đình và toàn bộ xã hội, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác nên Nhà nước đã có nhiều chính sách cương quyết tuyên truyền vận động đến chế tài xử lý nghiêm khắc mọi hành vi liên quan đến ma tuý. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy trước được tác hại của hành vi mua trái phép chất ma tuý nhưng vẫn cố ý thực hiện. Tại phiên toà bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình theo bản Cáo trạng và lời luận tội của Viện kiểm sát, do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận Lò Văn N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng truy tố và kết luận về hành vi phạm tội của bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với lỗi cố ý, nên cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm mục đích cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và đảm bảo công tác đấu tranh phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử có xem xét tại cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên quyết định áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm một phần hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên toà thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với người phụ nữ bán ma túy, do N khai không biết tên thật và địa chỉ, kết quả dẫn giải N xác định địa điểm mua ma túy tại khu vực ngã ba phố H, phường B, quận H, thành phố Hà Nội, nhưng không xác định được người phụ nữ đã bán ma túy cho N nên Cơ quan Điều tra không có căn cứ để xác minh, xử lý.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) bì niêm phong nguyên vẹn, bên trong có 01 gói giấy kích thước khoảng (1x1) cm bên trong có chứa chất bôt màu trắng, sau khi giám định là ma túy loại Heroin, khối lượng 0,134 gam, bên ngoài có chữ ký giám định viên và Lò Văn N.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự,

Xử phạt: Bị cáo Lò Văn N 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/12/2023.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) bì niêm phong nguyên vẹn, bên trong có 01 gói giấy kích thước khoảng (1x1) cm bên trong có chứa chất bột màu trắng, sau khi giám định là ma túy loại Heroin, khối lượng 0,134 gam, bên ngoài có chữ ký giám định viên và Lò Văn N, theo Biên bản bàn giao vật chứng ngày 28/3/2024 (Số tang vật: 129/2024) giữa Công an quận H với Chi cục Thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo Lò Văn N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo Lò Văn N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ