vanban.org

Bản án 81/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần M.

Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Lê Ngọc S, bà Trần Thị T3, bà Lê Ngọc hánh T1 với Công ty cổ phần M đường 333 được UBND thị trấn E chứng thực ngày 15/7/2009 đối với thửa đất số 439, tờ bản đồ số 28 (tách từ thửa số 112, tờ bản đồ 07), diện tích đất 8600m2 (diện tích đất s…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần M.
  • Căn cứ chính? Điều 129 Bộ luật d n sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng d n sự; Điều 156 Bộ luật Tố tụng d n sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN EA KAR
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 81/2024/DS-ST
Ngày: 30 – 9– 2024.
Về việc:“Tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng Quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA KAR, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Võ Thị Mai.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Y Nik Êban và ông Nguyễn Thế Hằng.

- Th ký phiên tòa: Ông h m u n uyết - Thư k T a án nh n d n huyện Ea Kar.

- Đại di n Vi n ki m sát nhân dân huy n EaKar tham gia phiên tòa: Ông Dư ng Minh u n - iểm sát viên.

Ngày 30/9/2024, t i trụ sở T a án nh n d n huyện Ea ar, tỉnh Đắk Lắk, xét xử s thẩm công khai vụ án d n sự thụ l số: 07/2024/TLST - DS, ngày 02 tháng 01 năm 2024. Về việc “Tranh chấp hợp đồng chuy n nh ợng quyền sử dụng đất” theo uyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2024/ Đ ST – DS, ngày 06/9/2024 và uyết định hoãn phiên t a số 72/ ĐST-DS/2024 ngày 25/9/2024, giữa:

- Nguyên đ n: Công ty Cổ phần M. Địa chỉ trụ sở: Tổ d n phố A, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.

Đ i diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Bá T. Chức vụ: Chủ tịch hội đồng quản trị.

Người đ i diện ủy quyền của nguyên đ n: Ông h m Hải D. Địa chỉ: Tổ d n phố B, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk, theo văn bản ủy quyền lập ngày 30/6/2023 (có mặt).

- Bị đơn: Ông Lê Ngọc S, sinh năm: 1957. Địa chỉ: Tổ d n phố A, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (có mặt).

- Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Lê Ngọc hánh T1, sinh năm: 1981. Địa chỉ: Tổ d n phố E, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.

Đ i diện theo ủy quyền của bà T1: Ông Lê Ngọc S. Địa chỉ: Tổ d n phố A, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk, theo văn bản ủy quyền ngày 09/9/2024.

+ Bà Lê Thị Thiên H, sinh năm: 1984. Địa chỉ: Tổ d n phố A, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.

Đ i diện theo ủy quyền của bà H: Ông Bùi Văn L, sinh năm: 1984. Địa chỉ: Tổ d n phố A, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (có mặt).

+ Bà Lê Ngọc hánh L1, sinh năm: 1993. Địa chỉ: Tổ d n phố A, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt).

- Ngƣời làm chứng: Ông Nguyễn Ngọc H1. Địa chỉ: Tổ d n phố E, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đ n khởi kiện, ghi ngày 29/6/2023 và t i các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như t i phiên toà đ i diện theo ủy quyền của nguyên đ n ông h m Hải D trình bày:

Vào ngày 15 tháng 7 năm 2009, Công ty Cổ phần M (gọi tắt là Công ty) do ông Phan Xuân T2 làm người đ i diện theo pháp luật có k hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với vợ chồng ông Lê Ngọc S, bà Trần Thị T3 và con gái Lê Ngọc hánh T1, diện tích 8.600m2 đất trồng c y l u năm thuộc một phần thửa đất số 112, tờ bản đồ số 07, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (giấy CN SD đất) số R429103 do UBND huyện E cấp ngày 07/11/2001 cho hộ Lê Ngọc S, địa chỉ thửa đất tọa l c t i thị trấn E với giá là 850.000.000đ (T4 trăm năm mư i triệu đồng), t i thời điểm chuyển nhượng Công ty đã thanh toán cho ông S, bà T3 số tiền 830.000.000đ, c n l i số tiền 20.000.000đ các bên thỏa thuận Công ty giữ l i để nộp tiền thuế, phí chuyển nhượng của ông S, bà T3. hi chuyển nhượng các bên k xác lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng và được Ủy ban nh n d n thị trấn E chứng thực vào ngày 15/7/2009, số chứng thực 444, quyển số 01-2009 TP/CC-SCT/HĐGD. Đến ngày 03/8/2009 ông Lê Ngọc S, bà Trần Thị T3 đã tiến hành đo đ c, lập biên bản bàn giao diện tích đất chuyển nhượng trên thực địa và bàn giao bản chính giấy CN SD đất nêu trên cho Công ty có ông Trần uang T5 là cán bộ địa chính UBND thị trấn E chứng kiến k , các bên cùng k xác nhận vào biên bản bàn giao đất. Sau khi k biên bản bàn giao đất Công ty đã trồng c y, x y dựng tài sản cố định trên đất, x y tường rào bằng xi măng kiên cố bao quanh phần diện tích đất nhận chuyển nhượng và sử dụng ổn định từ ngày 03/8/2009 cho đến nay, không xảy ra tranh chấp với ai.

Ngày 04/8/2010, ông Lê Ngọc S mượn l i bản chính giấy CN SD đất số R429103 do UBND huyện E cấp ngày 07/11/2001 từ Công ty để về làm thủ tục tách bìa đối với phần đất c n l i của ông Lê Ngọc S và tách phần diện tích đất đã chuyển nhượng cho Công ty 8600m2 thuộc một phần thửa đất số 112, tờ bản đồ số 07.

Năm 2016 ông Nguyễn Bá T, là người đ i diện theo pháp luật của Công ty cổ phần M thay cho ông Phan Xuân T2 nghỉ hưu. Sau đó giữa Công ty và gia đình ông Lê Ngọc S đã thống nhất thỏa thuận với nhau ông Lê Ngọc S có trách nhiệm hoàn tất thủ tục đăng k biến động tách thửa, thủ tục thừa kế từ bà Trần Thị T3 vợ của ông S đối với giấy CN SD đất trên cho ông Lê Ngọc S và Công ty sẽ thanh toán cho ông S tổng số tiền 70.000.000đ (trong đó 20.000.000đ tiền nợ đất và 50.000.000đ tiền chi phí tách thửa, chi phí thừa kế). Đến ngày 30/3/2023, ông Lê Ngọc S và đ i diện Công ty là ông Trần Đình H2 – nh n viên Công ty đã lập biên bản ông S bàn giao 01 giấy CN SD đất số R429103 cấp ngày 07/11/2001 (thay đổi c sở pháp l ngày 25/03/2022 để l i thừa kế cho ông Lê Ngọc S và ngày 21/06/2022). Cùng lúc đó, ông Trần Đình H2 đã thanh toán đủ cho ông Lê Ngọc S số tiền 70.000.000đ (Bảy mư i triệu đồng).

Đến nay, sau khi Công ty cổ phần M nhận được giấy CN SD đất số DL 495331, thửa đất số 439, tờ bản đồ số 28 (tách từ thửa 112, tờ bản đồ số 07), diện tích 9164,1m2 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 09/5/2023 mang tên ông Lê Ngọc S từ ông S, thì Công ty đã nhiều lần yêu cầu ông Lê Ngọc S tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng và hoàn tất thủ tục thực hiện việc sang tên đối với diện tích chuyển nhượng trên cho Công ty nhưng ông S cố tình trốn tránh trách nhiệm, không thực hiện theo hợp đồng chuyển nhượng các bên đã k kết.

Vì vậy, Công ty cổ phần M làm đ n khởi kiện yêu cầu T a án giải quyết: Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Lê Ngọc S, bà Trần Thị T3, bà Lê Ngọc hánh T1 với Công ty cổ phần M được UBND thị trấn E chứng thực ngày 15/7/2009 có hiệu lực. Đồng thời buộc ông Lê Ngọc S tiếp tục thực hiện theo nội dung hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 15 tháng 7 năm 2009 đối với thửa đất mới số 439, tờ bản đồ số 28 (tách từ thửa đất số 112, tờ bản đồ số 07), diện tích chuyển nhượng 8600m2 (diện tích sử dụng thực tế 8674,9m2); địa chỉ thửa đất tọa l c t i thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.

* uá trình giải quyết vụ án, cũng như t i phiên t a bị đ n và đ i diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Ngọc hánh T6 là ông Lê Ngọc S trình bày: Vào ngày 15/7/2009 ông Lê Ngọc S, bà Trần Thị T3 có k hợp đồng chuyển nhượng cho Công ty cổ phần M diện tích 8600m2, với giá 850.000.000đ (tám trăm năm mư i triệu đồng), diện tích đất trên thuộc một phần thửa đất số 112, tờ bản đồ 07 theo Giấy CN SD đất số R 429103 do UBND huyện E cấp ngày 07/11/2001 cấp cho hộ ông Lê Ngọc S. Diện tích đất chuyển nhượng có tứ cận: phía Đông giáp đường có c nh dài 85m; hía T y có c nh dài 83m; phía Bắc giáp đất Công ty có c nh dài 131m; hía Nam có c nh dài 120,5m giáp phần đất c n l i của ông S và giáp đất ông Nguyễn Hữu S1. hi chuyển nhượng vợ chồng tôi (Lê Ngọc S, Trần Thị T3) và con gái tôi là Lê Ngọc hánh T1 k hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với Công ty t i UBND thị trấn E số chứng thực 444, quyển số 01-2009 TP/CC-SCT/HDDGD vào ngày 15/7/2009 do ông Nguyễn Văn D1, chức vụ phó chủ tịch UBND thị trấn E k chứng thực hợp đồng và Công ty đã giao cho gia đình ông S số tiền 830.000.000đ, c n l i 20.000.000đ chúng tôi thỏa thuận Công ty giữ l i để nộp thuế thu nhập cá nh n, thuế chuyển đổi mục đích và lệ phí bên Công ty phải chịu.

Đến ngày 03/8/2009 ông Lê Ngọc S, cùng với ông Trần Trọng H3, Công ty cổ phần M và đ i diện chính quyền địa phư ng là ông Trần uang T5 đã tiến hành đo đ c lập biên bản bàn giao đất trên thực địa và bàn giao bản chính giấy CN SD đất số R 429103 do UBND huyện E cấp ngày 07/11/2001 cho Công ty. Sau khi đo đ c trên thực địa, đóng cọc xác định ranh giới thực tế bàn giao cụ thể như sau: phía Đông có c nh dài 85m; hía T y có c nh dài 83m; phía Bắc có c nh dài 131m; hía Nam có c nh dài 120,5m.

Từ ngày bàn giao đất trên thực địa và bản chính giấy CN SD đất trên cho Công ty nhưng Công ty không chịu làm thủ tục sang tên tách sổ trong giấy CN SD đất. Năm 2012 vợ ông S là bà Trần Thị T3 chết nên đến ngày 21/03/2022 những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà Trần Thị T3 gồm ông Lê Ngọc S và 03 người con của ông S, bà T3 là Lê Ngọc hánh T1, bà Lê Thanh Thiên H4, Lê Ngọc Khánh L1 đã lập biên bản thỏa thuận ph n chia di sản thừa kế của bà Trần Thị T3 đối với tài sản theo giấy CN SD đất số R 429103 cấp ngày 07/11/2001 và thay đổi c sở pháp l ngày 09/3/2022 trong đó có thửa đất số 112, tờ bản đồ 07 diện tích 12.000m2 sang tên cho ông Lê Ngọc S.

Đến ngày 30/3/2023 ông S đã bàn giao l i bản chính giấy CN SD đất nêu trên cho Công ty và công ty đã trả số tiền 20.000.000đ và Công ty M hỗ trợ tiền làm bìa tách thửa cho tôi là 50.000.000đ nên ông S đã nhận đủ số tiền 70.000.000đ của Công ty. Trong biên bản các bên có thỏa thuận tôi có trách nhiệm k hợp đồng ủy quyền cho ông Trần Đình H2 là người đ i diện của Công ty để thay mặt tôi làm thủ tục sang tên đổi sổ cho Công ty M. Hiện nay diện tích đất chuyển nhượng cho Công ty đã tách ra thành thửa đất số 439, tờ bản đồ số 28 (tách từ thửa đất số 112, tờ bản đồ số 07), diện tích c n là 9164,1m2 đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 09/5/2023 cấp cho ông Lê Ngọc S là tài sản riêng của tôi không liên quan gì đến các con tôi là Lê Ngọc hánh T1, Lê Thanh Thiên H4 và Lê Ngọc Khánh L1.

Căn cứ vào đ n khởi kiện và hồ s sang nhượng giữa tôi (Lê Ngọc S) với Công ty hoàn toàn không vi ph m pháp luật bất cứ điều gì. hi chuyển nhượng vì lý do riêng chưa làm thủ tục tách thửa kịp thời nên Công ty đề nghị bàn giao đất cho Công ty sử dụng trước để kịp thời x y dựng n ng cấp nhà máy, đến nay sử dụng đã h n 15 năm nay Công ty cổ phần M vẫn chưa thực hiện việc sang tên tách sổ trong giấy CN SD đất. Việc Công ty khởi kiện ông Lê Ngọc S tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là không đúng, vì ông S vẫn đứng tên trong Giấy CN SD đất nên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty và đề nghị Công ty cổ phần M phải có trách nhiệm sang tên tách sổ theo đúng như hợp đồng sang nhượng mà hai bên đã k xác lập vào ngày 15/7/2009 và mọi chi phí khởi kiện, thuế, lệ phí sang tên đổi trong giấy CN SD đất thì phía Công ty phải chịu không liên quan gì đến ông S.

*Người đ i diện theo uỷ quyền của bà Lê Thanh Thiên H4: Ông Bùi Văn L trình bày: Bà Lê Thanh Thiên H4 là vợ của ông Bùi Văn L và là con gái của ông Lê Ngọc S, bà Trần Thị T3. Việc mua bán chuyển nhượng giữa ông S, bà T3 với Công ty M thì bà H4 không liên quan. Hiện nay bà H4 đã làm thủ tục ph n chia di sản thừa kế từ mẹ là bà Trần Thị T3 sang cho ông S. Nay Công ty khởi kiện bà H4 thống nhất với kiến trình bày của ông Lê Ngọc S, không có kiến trình bày bổ sung gì thêm và đề nghị T a án giải quyết theo hợp đồng chuyển nhượng ngày 15/7/2009.

* Người làm chứng ông Nguyễn Ngọc H1 trình bày: Tôi (H1) là con trai của ông Nguyễn Hữu S1 và bà Lê Ngọc hánh T1 là vợ của tôi, hiện nay ông Nguyễn Hữu S1 đã chết và vợ chồng tôi đang quản l , sử dụng đối với diện tích đất của ông Nguyễn Hữu S1 nên năm 2009 ông Lê Ngọc S bán đất cho Nhà máy đường 333 và nhà máy đường tự đo đ c, x y hàng rào kiên cố không xê dịch. Đối với phần diện tích 120m2 theo kết quả của Công ty Đ xác định đang nằm trong thửa đất số 439, tờ bản đồ số 28 của ông Lê Ngọc S, giáp ranh thửa đất nhà tôi hiện nay bỏ trống, gia đình tôi không sử dụng đối với phần diện tích đất này và nằm ngoài bờ rào của Công ty, cũng không có tranh chấp với bất kỳ ai.

Sau khi thụ l vụ án T a án đã tống đ t thông báo thụ l vụ án cho các bên đư ng sự trong vụ án, tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và h a giải nhưng do các bên đư ng sự đã không thống nhất được với nhau về việc giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 203 của Bộ luật tố tụng d n sự, T a án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

hần tranh luận:

- Ông h m Hải D trình bày kiến tranh luận: Nguyên đ n Công ty cổ phần M vẫn giữ nguyên toàn bộ nội dung yêu cầu khởi kiện và không có kiến trình bày bổ sung gì thêm.

- Ý kiến của Lê Ngọc S: Đề nghị Công ty cổ phần M đường 333 hoàn tất thủ tục sang tên đổi chủ trong giấy CN SD đất theo hợp đồng chuyển nhượng của các bên đã k kết được UBND thị trấn E k chứng thực vào ngày 15/7/2009 và mọi chi phí khởi kiện, thuế, lệ phí sang tên trong giấy CN SD đất thì phía Công ty phải chịu không liên quan gì đến ông Lê Ngọc S.

- Ý kiến của ông Bùi Văn L trình bày kiến tranh luận: Ông L thống nhất với kiến trình bày của ông Lê Ngọc S nên không trình bày bổ sung gì thêm.

* Đ i diện Viện kiểm sát nh n d n huyện Ea ar tham gia phiên t a phát biểu kiến:

- Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư k , nguyên đ n, đ i diện theo ủy quyền của nguyên đ n và bị đ n đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Về nội dung: Căn cứ Điều 265 của Bộ luật d n sự năm 2005; Các Điều 129, 500, 501, 503 của Bộ luật d n sự 2015; khoản 1 Điều 167; Điều 188 của Luật đất đai năm 2013, sửa đổi bổ sung năm 2018, đề nghị HĐ , chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần M.

Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Lê Ngọc S, bà Trần Thị T3, bà Lê Ngọc hánh T1 và Công ty cổ phần M đường 333 được UBND thị trấn E chứng thực ngày 15/7/2009 đối với diện tích đất chuyển nhượng 8600m2 (diện tích đo đ c sử dụng thực tế 8674,9m2) theo giấy CN SD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DL 495331, thửa đất số 439, tờ bản đồ số 28 (tách từ thửa đất số 112, tờ bản đồ 07), diện tích 9164,1m2 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 09/5/2023 cấp cho ông Lê Ngọc S; địa chỉ thửa đất tọa l c t i thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Buộc ông Lê Ngọc S phải tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 15/7/2009.

Đư ng sự phải chịu chi phí tố tụng và án phí d n sự s thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ s vụ án được thẩm tra t i phiên t a, căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét t i phiên t a, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Xét về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Nguyên đ n khởi kiện yêu cầu T a án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, lập ngày 15/7/2009 và buộc bị đ n tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Lê Ngọc S, bà Trần Thị T3, bà Lê Ngọc hánh T1 với Công ty Cổ phần M UBND thị trấn E chứng thực vào ngày 15/7/2009. Đ y là quan hệ “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng uyền sử dụng đất” và tài sản tranh chấp trên địa bàn huyện E, tỉnh Đắk Lắk thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ea ar theo quy định t i khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng d n sự năm 2015.

[2] Về thủ tục tố tụng: Toà án đã uyết định đưa vụ án ra xét xử, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Lê Ngọc hánh L1 đã được T a án triệu tập tham gia phiên t a lần thứ hai nhưng vắng mặt không l do, như vậy đư ng sự từ bỏ quyền và nghĩa vụ chứng minh trước t a. Do đó, HĐ quyết định xét xử vắng mặt những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lê Ngọc hánh L1 là có căn cứ phù hợp với quy định khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng D n sự năm 2015.

[3] Về nội dung:

[3.1] ét yêu cầu khởi kiện của nguyên đ n về việc công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, lập ngày 15/7/2009, Hội đồng xét xử (HĐ ) nhận thấy: uá trình giải quyết vụ án, cũng như t i phiên t a đ i diện theo ủy quyền của nguyên đ n ông h m Hải D, bị đ n ông Lê Ngọc S và ông Bùi Văn L đều thừa nhận: Ngày 15/7/2009, vợ chồng ông Lê Ngọc S, vợ bà Trần Thị T3 và con gái Lê Ngọc Khánh T1 có k hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với Công ty Cổ phần M đường 333, chuyển nhượng với diện tích 8.600m2 đất trồng c y l u năm thuộc một phần thửa đất số 112, tờ bản đồ số 07, theo giấy CN SD đất số R429103 do UBND huyện E cấp ngày 07/11/2001 cấp cho hộ Lê Ngọc S, địa chỉ thửa đất tọa l c t i thị trấn E với giá là 850.000.000đ (Tám trăm năm mư i triệu đồng) là có thực. Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất của các bên là hoàn toàn tự nguyện, t i thời điểm chuyển nhượng các bên tham gia giao dịch đều có năng lực hành vi d n sự, mục đích và nội dung của giao dịch không vi ph m điều cấm của pháp luật, không trái đ o đức xã hội, đất chuyển nhượng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng đều có đủ các điều kiện về chuyển nhượng và nhận chuyển nhượng theo quy định của pháp luật. Theo quy định t i Điều 116, các Điều 500, 501 của Bộ luật d n sự năm 2015 và hoản 1 Điều 167; Điều 188 của Luật đất đai năm 2013, sửa đổi bổ sung năm 2018.

T i Điều 188 Luật đất đai năm 2013, sửa đổi bổ sung năm 2018 quy định điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê l i, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất.

1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng cho thuê, cho thuê l i, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đ y:

a) Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định t i khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định t i khoản 1 Điều 168 của Luật này;

b) Đất không có tranh chấp;

c) uyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;

d) Trong thời h n sử dụng đất.

2. Ngoài các điều kiện quy định t i khoản 1 Điều này, người sử dụng đất khi thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê l i, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; quyền thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất c n phải có đủ điều kiện theo quy định t i các điều 189, 190, 191, 192, 193 và 194 của Luật này.

3. Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê l i, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đăng k t i c quan đăng k đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng k vào sổ địa chính.

Đối chiếu với các quy định nêu trên thì Hợp đồng chuyển nhượng đất ngày 15/7/2009 giữa ông Lê Ngọc S, bà Trần Thị T3 và bà Lê Ngọc hánh T1 và Công ty cổ phần M đã đáp ứng được các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng. Hợp đồng chuyển nhượng đất ngày 15/7/2009 được Ủy ban nh n d n thị trấn E k chứng thực số 444, quyển số 01-2009 TP/CC-SCT/HĐGD, bên nhận chuyển nhượng Công ty đã thanh toán đủ số tiền chuyển nhượng cho ông Lê Ngọc S, bà Trần Thị T3 và đã bàn giao đất cho Công ty trực tiếp quản l và sử dụng cho đến nay các bên không tranh chấp. Đ y là những tình tiết không phải chứng minh theo quy định t i khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng d n sự năm 2015.

T i thời điểm xác lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, ngày 15/7/2009, thì giấy CN SDĐ số R429103 được UBND huyện E cấp ngày 07/11/2011 cấp cho hộ ông Lê Ngọc S nên tài sản trên của S bà T3 không tranh chấp và không bị c quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn hay kê biên để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Lê Ngọc S và bà Trần Thị T3.

Mặc dù việc giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 15/7/2009 giữa các bên đã tu n thủ về hình thức và nội dung của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của Bộ luật d n sự năm 2005; Bộ luật d n sự năm 2015 và Luật đất đai năm 2013, sửa đổi bổ sung năm 2018 nhưng hợp đồng chưa được đăng k vào sổ mục kê địa chính, các bên đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ, bên nhận chuyển nhượng đã trồng c y, x y dựng các công trình, nhà xưởng kiên cố và x y tường rào bằng g ch bao quanh diện tích đất nhận chuyển nhượng sử dụng ổn định từ ngày 03/8/2009 cho đến nay, các bên không tranh chấp. Căn cứ Điều 129 Bộ luật d n sự năm 2015 cần Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Lê Ngọc S, bà Trần Thị T3, bà Lê Ngọc hánh T1 với Công ty cổ phần M đường 333 được UBND thị trấn E chứng thực ngày 15/7/2009, diện tích 8600m2 (diện tích đất sử dụng thực tế 8674,9m2). Do diện tích đất này đã được ông Lê Ngọc S và các con Lê Ngọc hánh T1, Lê Ngọc hánh L1, Lê Thanh T7 thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà Trần Thị T3, đã hoàn tất thủ tục ph n chi di sản thừa kế sang tên cho ông Lê Ngọc S là chủ sở hữu hợp pháp nên cần buộc ông Lê Ngọc S phải tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được UBND thị trấn E chứng thực ngày 15/7/2009 đối với thửa đất số 439, tờ bản đồ số 28 (tách từ thửa số 112, tờ bản đồ 07), diện tích đất 8600m2 (diện tích đất sử dụng thực tế 8674,9m2) theo giấy CN SD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DL 495331 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 09/5/2023 cấp cho ông Lê Ngọc S; địa chỉ thửa đất tọa l c t i thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.

[3.2] ét kiến của ông Lê Ngọc S cho rằng theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được UBND thị trấn E chứng thực ngày 15/7/2009, diện tích đất chuyển nhượng là 8600m2 nhưng diện tích đất được cấp trên giấy CN SD đất số DL 495331 thửa đất số 439, tờ bản đồ 28 là 9164,1m2 đất là nhiều h n diện tích chuyển nhượng cho Công ty, HĐ thấy: Giấy CN SDĐ số R429103, diện tích 13095m2, trong đó thửa đất số 143a, tờ bản đồ số 05 có diện tích 195m2 đất ở và thửa đất số 112 diện tích được cấp 12900m2 đất cà phê được UBND huyện E cấp ngày 07/11/2011 và thay đổi c sở pháp l ngày 09/3/2022, ngày 25/3/2022 để l i thừa kế cho ông Lê Ngọc S thể hiện: Ngày 11/6/2022 chuyển nhượng cho ông Trần uốc D2, bà Nguyễn Thị H5 diện tích đất 1159,2m2; Tặng cho con Lê Ngọc Thiên H6 diện tích 2066,8m2; Tặng cho con Lê Ngọc hánh T1 thửa đất số 143a tờ bản đồ 05, diện tích 195m2; cấp đổi thửa đất số 678, diện tích 1102,4m2 và diện tích c n l i của thửa đất 112, tờ bản đồ 07 là 8571,6m2 (thửa mới số 439) nhưng diện tích đất ông S chuyển nhượng cho Công ty 8600m2. Đến ngày13/4/2023 ông Lê Ngọc S đã làm đ n đăng k biến động đất đai từ diện tích đất 8571,6m2 lên thành diện tích 9164,1m2 và đã được Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh Đắk Lắk cấp giấy CN SD đất số DL 495331, thửa đất số 439, tờ bản đồ số 28, diện tích 9164,1m2 cấp ngày 09/5/2023 mang tên Lê Ngọc S. Như vậy diện tích thửa đất số 439 cấp l i cho ông Lê Ngọc S nhiều h n diện tích đất c n l i trong giấy CN SD đất được cấp 592,5m2 là do ông S làm thủ tục đăng k biến động đối với thửa đất. Ngoài ra theo kết quả đo đ c ranh giới thửa đất do ông S xác định thể hiện diện tích Công ty đang sử dụng thực tế là 8674,9m2 là hoàn toàn phù hợp với diện tích đất 8600m2chuyển nhượng trên hợp đồng lập ngày 15/7/2009. T i phiên t a đ i diện theo ủy quyền của nguyên đ n xác định nguyên đ n đề nghị Toà án công nhận đối với phần diện tích theo hiện tr ng sử dụng là 8674,9m2 (diện tích theo hợp đồng là 8600m2) và đối với diện tích đất trong giấy CN SD đất của ông S nhưng ngoài tường rào của Công ty nên Công ty không yêu cầu T a án xem xét. Vì vậy, HĐ căn cứ khoản 1 Điều 5 Bộ Luật tố tụng d n sự quy định về quyền quyết định và tự định đo t của đư ng sự để giải quyết trong ph m vi khởi kiện của nguyên đ n.

[3.3] Về chi phí tố tụng: Ghi nhận việc nguyên đ n tự nguyện chịu tiền chi phí đo đ c, lệ phí thu thập chứng cứ, chi phí thẩm định và định giá tài sản là 13.200.000đ (đã chi phí xong). Số tiền này được khấu trừ vào số tiền 14.000.000đ t m ứng chi phí tố tụng mà đ i diện theo ủy quyền của nguyên đ n ông h m Hải D đã nộp t i T a án, số tiền c n l i 800.000đ, T a án đã trả cho ông h m Hải D nên HĐ không đặt ra để giải quyết.

[4] Về án phí s thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần M được chấp nhận nên buộc bị đ n ông Lê Ngọc S phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí d n sự s thẩm không có giá ng ch.

Hoàn trả cho Công ty cổ phần M số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền t m ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền t m ứng án phí số AA/2022/0004883, ngày 28/12/2023 t i Chi cục Thi hành án d n sự huyện Ea ar, tỉnh Đắk Lắk.

[5] ét kiến quan điểm của đ i diện Viện kiểm sát t i phiên t a là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật nên HĐ chấp nhận toàn bộ kiến quan điểm của đ i diện Viện kiểm sát.

Vì các lẽ trên;

UYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 5, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92; khoản 1 Điều 147, Điều 156, Điều 157, Điều 158, khoản 1 Điều 165, Điều 203; Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng d n sự năm 2015; Điều 265 của Bộ luật d n sự năm 2005; Các Điều 129, Điều 500, 501, 503 của Bộ luật d n sự 2015;

Căn cứ hoản 1 Điều 167; Điều 188 của Luật đất đai năm 2013, sửa đổi bổ sung năm 2018; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTV H-14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ uốc hội quy định về án phí, lệ phí T a án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần M.

Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Lê Ngọc S, bà Trần Thị T3, bà Lê Ngọc hánh T1 với Công ty cổ phần M đường 333 được UBND thị trấn E chứng thực ngày 15/7/2009 đối với thửa đất số 439, tờ bản đồ số 28 (tách từ thửa số 112, tờ bản đồ 07), diện tích đất 8600m2 (diện tích đất sử dụng thực tế 8674,9m2) theo giấy CN SD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DL 495331 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đắk Lắk cấp cho ông Lê Ngọc S, cấp ngày 09/5/2023 có hiệu lực. Diện tích đất có tứ cận như sau: Hướng Bắc giáp đất Công ty, đất ông H3 có c nh dài 27,85 + 40,55 + 40,13 + 41,61 + 56,14m; hướng Đông giáp đường có c nh dài 42,56m + 43,39m; hướng Nam giáp đất ông Lê Ngọc S, ông H1 có c nh dài 9,61 + 32,17 + 10,01 + 8,38 + 60,04m; hướng T y có c nh dài 11,81 + 11,16 + 19,12 + 11,59 + 6,50 + 20,81 + 1,15m.

Buộc ông Lê Ngọc S phải tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được UBND thị trấn E chứng thực ngày 15/7/2009.

Các bên có tên trên có trách nhiệm liên hệ với c quan Nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục chuyển nhượng, đăng k biến động theo quy định của pháp luật về đất đai. Trong trường hợp ông Lê Ngọc S không hợp tác thì nguyên đ n Công ty cổ phần M có trách nhiệm liên hệ với c quan Nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục chuyển nhượng theo quy định của pháp luật về đất đai.

2. Về chi phí tố tụng: Ghi nhận việc Công ty cổ phần M tự nguyện chịu tiền chi phí đo đ c, lệ phí thu thập chứng cứ, chi phí thẩm định và định giá tài sản là 13.200.000đ (đã chi phí xong). Do đó, HĐ không đề cập để giải quyết.

3. Về án phí s thẩm:

+ Buộc ông Lê Ngọc S phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí d n sự s thẩm không có giá ng ch.

+ Hoàn trả cho Công ty cổ phần M số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền t m ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền t m ứng án phí số AA/2022/0004883, ngày 28/12/2023 t i Chi cục Thi hành án d n sự huyện Ea ar, tỉnh Đắk Lắk.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đ n; bị đ n và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt t i phiên t a được quyền kháng cáo bản án trong h n 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt t i phiên t a được quyền kháng cáo bản án trong h n 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản sao bản án được niêm yết hợp lệ.

“ Tr ờng hợp bản án đ ợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ng ời đ ợc thi hành án dân sự, ng ời phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguy n thi hành án hoặc bị c ỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hi u thi hành án đ ợc thực hi n theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.”

(Kèm theo Bản án là bản đo chi tiết các thửa đất của Công ty cổ phần Đ, ngày 13/05/2024).

Cỡ chữ