- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Quang H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Quang H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 81/2023/HS-ST Ngày: 25-5-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Diệu Linh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thu Hà, bà Nguyễn Thị Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Phương - Thư ký Tòa án nhân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hải Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 73/2023/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:
Trần Quang H, sinh năm 1996 tại Hải Dương.
Đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại đội 10, thôn Đ, xã Đ1, huyện N, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn B và bà Ngô Thị A; có vợ là chị Trần Thị C và 01 con sinh năm 2020 (đã chết); tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bằng hình thức phạt tiền 1.000.000đ theo Quyết định số 75/QĐ-XPVPHC ngày 21/02/2017 của Trưởng Công an huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương (đã nộp tiền phạt ngày 21/02/2017); bị tạm giữ từ ngày 27/02/2023 chuyển tạm giam từ ngày 02/3/2023 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương (Có mặt tại phiên tòa).
Bị hại: Ông Phùng Văn L, sinh năm 1954. Trú tại thôn T, xã A1, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Hữu A2, sinh năm 1973. Trú tại số 108 T2, thị trấn N1, huyện N1, tỉnh Hải Dương.
(Đều vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt)
Người làm chứng: Anh Phùng Văn H1, anh Nguyễn Danh T3 (Đều vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Quang H là đối tượng nghiện ma túy, không có công việc ổn định. Khoảng 12 giờ ngày 17/8/2022, H điều khiển xe máy nhãn hiệu Juilong màu xanh, biển số 34K2-1291 của anh Nguyễn Trọng B1 (là bạn của H) đến ngôi nhà đang xây dựng của ông Phùng Văn L tại thôn Trác Châu, xã An Thượng, thành phố Hải Dương, thấy không có ai trông coi nên H nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. H dựng xe máy ở lề đường rồi đi bộ lên tầng 2 của ngôi nhà đang xây thì thấy có 01 túi xách bằng vải dù màu đen bên trong có 01 máy khoan đục cầm tay; 01 máy khoan gỗ loại nhỏ màu xanh dương; 01 máy cắt gạch cầm tay loại nhỏ; 01 máy mài góc cầm tay loại nhỏ màu xanh đen; 01 máy mài cầm tay màu hồng loại nhỏ (tất cả đều đã qua sử dụng). H cầm túi xách bên trong có những tài sản trên ra xe điều khiển xe máy đến cửa hàng mua bán sửa chữa máy cơ điện cũ của anh Nguyễn Hữu A ở số 108 108 T2, thị trấn N1, huyện N1, tỉnh Hải Dương, bán được số tiền 1.000.000đ và đã tiêu sài cá nhân hết.
Đến khoảng 12 giờ ngày 19/8/2022, H tiếp tục điều khiển xe máy nêu trên đến khu vực trước ngôi nhà đang xây dựng của ông L để trộm cắp tài sản. H đỗ xe bên đường đối diện và đi bộ sang khu vực sân ngôi nhà, thấy tại góc sân tầng 1 có 10 thanh sắt mạ kẽm dạng hộp đã cũ trong đó có 03 thanh kích thước 5x5x160cm, 07 thanh kích thước 5x5x200cm. H nhặt những thanh sắt này xếp lại rồi dùng dây thép sẵn có buộc thành 02 bó. Khi H đang quan sát để mang 10 thanh sắt ra xe máy thì ông L hô hoán mọi người bắt giữ H và báo lực lượng công an đến yêu cầu H về trụ sở làm việc.
Ngày 19/8/2022, anh Nguyễn Hữu A tự nguyện giao nộp cho Cơ quan CSĐT Công an thành phố Hải Dương 01 máy khoan đục cầm tay đã qua sử dụng, bên phải thân máy có dán tem nhãn hiệu DCA có dây phích cắm màu vàng, chiều dài thân máy khoảng 35cm, có tay cầm bên trái; 01 máy khoan gỗ loại nhỏ màu xanh dương đã qua sử dụng, trên thân máy đề nhãn BOSCH có dây và phích cắm điện màu đen; 01 máy cắt gạch cầm tay màu đỏ đen đã qua sử dụng, bên phải thân máy có dán nhãn ETOP; 01 máy mài cầm tay loại nhỏ, màu xanh đen đã qua sử dụng, bên phải thân máy có dán tem nhãn Doncheng, dây và phích cắm màu vàng; 01 máy mài cầm tay màu hồng loại nhỏ đã qua sử dụng, trên thân máy có chữ BSA Mod 51001 Angel frinder, dây và phích cắm màu đen.
Kết luận định giá tài sản số 45/KL-HĐĐG ngày 03/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân thành phố Hải Dương, xác định:
10 thanh sắt mạ kẽm dạng hộp, trong đó có 03 thanh kích thước 5x5x160cm, 07 thanh kích thước 5x5x200cm, đã qua sử dụng, mua mới tháng 3/2020 với giá 300.000 đồng/thanh, tổng cân nặng 35kg tại thời điểm ngày 19/8/2022 có giá trị 35kg x 8.500đ/kg = là 297.500 đồng;
01 máy khoan đục cầm tay đã qua sử dụng, bên phải thân máy có dán tem nhãn hiệu DCA AZC03-26B, thân máy dài 35cm có tay cầm bên trái, sản xuất tại Trung Quốc, mua mới tháng 3/2021, tại thời điểm ngày 17/8/2022 có giá trị là 1.180.000 đồng x 80% = 941.190 đồng.
01 máy khoan gỗ loại nhỏ màu xanh dương đã qua sử dụng, trên thân máy đề nhãn BOSCH GSB 13RE, sản xuất tại Trung Quốc, mua mới tháng 02/2021, tại thời điểm ngày 17/8/2022 có giá trị là 1.395.000 đồng x 79% = 1.096.071 đồng.
01 máy cắt gạch cầm tay loại nhỏ đã qua sử dụng, bên phải thân máy có dán nhãn ETOP-XH-110B (220v-50/60HZ 1200W), mua mới tháng 3/2021, tại thời điểm ngày 17/8/2022 có giá trị là 550.000 đồng x 80% = 440.000 đồng.
01 máy mài góc cầm tay loại nhỏ, màu xanh đen đã qua sử dụng, bên phải thân máy có dán tem nhãn Doncheng DSM05-100B, 850W, dây phích cắm màu vàng, mua mới tháng 3/2021, tại thời điểm ngày 17/8/2022 có giá trị là 610.000 đồng x 80% = 488.000 đồng.
01 máy mài cầm tay màu hồng loại nhỏ đã qua sử dụng, trên thân máy có chữ BSA Mod 51001 Angel frinder, dây và phích cắm màu đen, mua mới tháng 3/2021, tại thời điểm ngày 17/8/2022 có giá trị là 345.000 đồng x 80% = 276.000 đồng.
Tổng giá trị là 3.538.762 đồng.
Về vật chứng:
Đối với 10 thanh sắt mạ kẽm dạng hộp và 05 máy khoan cắt cầm tay, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Hải Dương đã trả lại cho ông Phùng Văn L.
Chiếc xe máy biển số 34K2-1291 nhãn hiệu JIULONG mang tên ông Đồng Ngọc Q. Quá trình điều tra xác định chủ sở hữu chiếc xe là anh Nguyễn Trọng B1. Anh B1 cho H mượn xe máy và không biết H sử dụng vào việc phạm tội. Cơ quan CSĐT Công an thành phố Hải Dương đã trả lại chiếc xe máy cho anh Bắc.
Về trách nhiệm dân sự: Ông L đã nhận lại tài sản không có yêu cầu gì khác về dân sự. Anh Hữu A không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo.
Tại Cáo trạng số 73/CT-VKSTPHD ngày 24/4/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Trần Quang H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố Trần Quang H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội: Xử phạt bị cáo Trần Quang H từ 09 (chín) tháng tù đến 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 27/02/2023. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình và công nhận quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương là đúng người, đúng tội. Lời nói sau cùng của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt, không yêu cầu bị cáo bồi thường và đề nghị giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi của bị cáo: Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người bị hại, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ, biên bản xác định hiện trường, sơ đồ hiện trường, kết luận định giá tài sản và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ các ngày 17/8/2022 và 19/8/2022, Trần Quang H đã lợi dụng sơ hở không có người trông giữ lén lút vào ngôi nhà đang xây của ông Phùng Văn L tại thôn Trác Châu, xã An Thượng, thành phố Hải Dương chiếm đoạt 01 máy khoan đục cầm tay nhãn hiệu DCA AZC03-26B, 01 máy khoan gỗ đề nhãn BOSCH; 01 máy cắt gạch cầm tay dán nhãn ETOP-XH-110B (220v-50/60HZ 1200W), 01 máy mài nhãn Doncheng DSM05-100B, dây và phích cắm màu vàng; 01 máy mài cầm tay trên thân máy có chữ BSA Mod 51001 Angel frinder, dây và phích cắm màu đen; 10 thanh sắt mạ kẽm dạng hộp trong đó có 03 thanh kích thước 5x5x160cm và 07 thanh kích thước 5x5x200cm. Tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 3.538.762 đồng.
Hành vi của bị cáo trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác bị pháp luật ngăn cấm nH do lười lao động muốn có tiền tiêu xài nên bị cáo đã cố tình thực hiện tội phạm. Bị cáo thực hiện hành vi kế tiếp nhau về mặt thời gian với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 3.538.762 đồng. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương truy tố đối với bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử lý đối với bị cáo:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân xấu từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Hội đồng xét xử căn cứ quy định của pháp luật, cân nhắc tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét thấy, cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn mới đảm bảo tác dụng giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa chung trong xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo làm lao động tự do nH thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng, trách nhiệm dân sự:
Người bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu nào khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tự nguyện cho bị cáo số tiền 1.000.000đ và không có yêu cầu nào khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu JIULONG biển số 34K2-1291 màu sơn xanh, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ tài sản là phù hợp quy định pháp luật.
Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Về tố tụng và các vấn đề khác: Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan và người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên đều hợp pháp.
Anh Nguyễn Hữu A mua lại những tài sản của H nH không biết đây là tài sản do phạm tội mà có, anh Nguyễn Trọng B1 không biết H sử dụng xe máy của mình vào việc phạm tội nên không có căn cứ để xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Quang H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Quang H 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 27/02/2023.
3. Về án phí: Bị cáo Trần Quang H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân TP. Hải Dương; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương; - Cơ quan CSĐT Công an TP. Hải Dương; - Cơ quan THAHS Công an TP. Hải Dương; - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ CA TP. Hải Dương; - Chi cục THADS TP. Hải Dương; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương; - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương; - Bị cáo; - Bị hại, người có QL&NV liên quan; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Diệu Linh |