vanban.org

Bản án 81/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Anh Vũ Văn H được ly hôn chị Vũ Thị P .

Về con chung: Anh Vũ Văn H và chị Vũ Thị P có hai con chung là Vũ Thị Hải Y sinh ngày 16/10/2009 và Vũ Duy K sinh ngày 14/4/2011. Giao con Vũ Thị Hải Y cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng, giao con Vũ Duy K cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, cho đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi, có đủ khả năng lao động hoặc… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh H ly hôn chị P"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Anh Vũ Văn H được ly hôn chị Vũ Thị P .
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN DƯƠNG
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 81/2023/HNGĐ-ST
Ngày 31-7-2023
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Lý

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Văn Cường

Bà Bùi Thị Nhàn

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Thanh Nhàn - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 73/2023/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2023 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên toà số 53/2023/QĐST-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Vũ Văn H ; địa chỉ: Thôn H , xã H , huyện A , thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Bị đơn: Chị Vũ Thị P ; địa chỉ: Thôn H , xã H, huyện A , thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện nộp tại Tòa án đề ngày 17 tháng 5 năm 2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Vũ Văn H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Vũ Văn H và chị Vũ Thị P kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H P , huyện A , thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận kết hôn số 56, ngày 23/4/2009. Quá trình chung sống, anh H và chị P phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống chung. Anh H xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Vũ Thị P .

- Về con chung: Anh Vũ Văn H và chị Vũ Thị P có hai con chung là Vũ Thị Hải Y sinh ngày 16/10/2009 và Vũ Duy K sinh ngày 14/4/2011. Tại đơn khởi kiện, anh đề nghị Toà án giao cả hai con cho anh trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi mỗi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con chung, anh H không yêu cầu Toà án giải quyết. Tại phiên toà, anh đồng ý để chị P trực tiếp nuôi con Vũ Thị Hải Y , anh trực tiếp nuôi con Vũ Duy K .

- Về tài sản chung: Anh Vũ Văn H trình bày vợ chồng có tài sản chung nhưng để hai bên tự thỏa thuận, nếu không được sẽ đề nghị Tòa án giải quyết sau.

Bị đơn là chị Vũ Thị P không có quan điểm trình bày tại Tòa án.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng trình tự thủ tục do pháp luật quy định. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xử cho anh Vũ Văn H ly hôn chị Vũ Thị P . Giao con Vũ Thị Hải Y sinh ngày 16/10/2009 cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng, giao con Vũ Duy K sinh ngày 14/4/2011 cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, cho đến khi mỗi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật. Về việc cấp dưỡng nuôi con và về tài sản chung, anh H không yêu cẩu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết trong vụ án này. Về án phí: Anh Vũ Văn H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh Vũ Văn H khởi kiện xin ly hôn bị đơn là chị Vũ Thị P đang cư trú tại: Thôn H , xã H , huyện A , thành phố Hải Phòng. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Dương theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị P vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nên căn cứ các điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt chị P .

Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa anh Vũ Văn H và chị Vũ Thị P đã được xác lập là hợp pháp ( Giấy chứng nhận kết hôn số 56, ngày 23/4/2009 tại Ủy ban nhân xã L , huyện A , thành phố Hải Phòng). Căn cứ vào lời khai của đương sự, tài liệu điều tra xác minh đã xác định được mâu thuẫn vợ chồng có tồn tại làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ vào Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình xử cho anh Vũ Văn H được ly hôn chị Vũ Thị P .

. Về con chung: Anh Vũ Văn H và chị Vũ Thị P có hai con chung là Vũ Thị Hải Y sinh ngày 16/10/2009 và Vũ Duy K sinh ngày 14/4/2011. Để đảm bảo quyền lợi của các con chung và của các đương sự, giao con Vũ Thị Hải Y cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng, giao con chung Vũ Duy K cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với các Điều 81, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình. Về cấp dưỡng nuôi con chung, anh H không yêu cầu Toà án giải quyết. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

. Về tài sản chung: Anh H trình bày để hai bên tự thỏa thuận, nếu không được sẽ đề nghị Tòa án giải quyết sau; mặt khác, chưa có lời khai của chị P về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết trong vụ án này.

. Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, anh H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

1. Về hôn nhân: Anh Vũ Văn H được ly hôn chị Vũ Thị P .

2. Về con chung: Anh Vũ Văn H và chị Vũ Thị P có hai con chung là Vũ Thị Hải Y sinh ngày 16/10/2009 và Vũ Duy K sinh ngày 14/4/2011. Giao con Vũ Thị Hải Y cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng, giao con Vũ Duy K cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, cho đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi, có đủ khả năng lao động hoặc có thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Anh Vũ Văn H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005113 ngày 31 tháng 5 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện An Dương, thành phố Hải Phòng. Anh H đã nộp đủ án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Anh Vũ Văn H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Chị Vũ Thị P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ