- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trượng Thị Mỹ Th.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH NINH THUẬN Bản án số: 81/2023/HNGĐ-ST; Ngày: 17/8/2023; V/v: “Tranh chấp ly hôn, người nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Cốc.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Ngọc Minh.
2. Ông Hán Văn Mai.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đổng Mây Hồng Tuyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thị Kim Thuyền - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 77/2023/TLST-HNGĐ, ngày 24 tháng 3 năm 2023 về việc: “Tranh chấp ly hôn, người nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 13 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 14/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 01 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trượng Thị Mỹ Th, sinh năm 1993 (Vắng mặt – Có đơn xin xét xử vắng mặt);
Nơi cư trú: Thôn Tân Đức, xã Phước Hữu, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
- Bị đơn: Ông Hứa Minh Ph, sinh năm 1991 (Vắng mặt);
Nơi cư trú: Thôn Tân Đức, xã Phước Hữu, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
Hiện cư trú: Thôn Hữu Đức, xã Phước Hữu, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn bà Trượng Thị Mỹ Thả trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Hứa Minh Ph tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau và đăng ký kết hôn tại UBND xã Phước Hữu, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận tại số: 175, quyền số: II/2013, ngày 28/8/2013. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại thôn Tân Đức, xã Phước Hữu, huyện Ninh Phước. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một năm đầu sau đó phát sinh cãi vã nhau do mâu thuẫn về vấn đề tài chính và cả quan điểm sống không hợp nên hai bên nhiều lần xảy cãi vã nhau; Ông Ph thì sống bàng quang vô trách nhiệm, bà nhiều lần khuyên giải và góp ý để cải thiện đời sống hôn nhân nhưng ông Ph mặc kệ vì vậy mâu thuẫn không được giải quyết mà ngày càng trầm trọng hơn đến mức vì mâu thuẫn vợ chồng tôi mà gia đình hai bên xảy ra xung đột, phía gia đình chồng nhiều lần sang nhà bà quậy phá, xúc phạm gia đình bà.
Do vợ chồng mâu thuẫn nên từ năm 2021 ông Ph dọn về nhà cha mẹ ông Ph ở thôn Hữu Đức, xã Phước Hữu còn bà và con chung thì vẫn ở địa chỉ cũ tại thôn Tân Đức, xã Phước Hữu; Từ khi vợ chồng sống riêng thì hai bên không còn quan tâm hay hỏi han gì nhau nữa, ông Ph không có ý hàn gắn mà lại gây thêm căng thẳng.
Vợ chồng bà mâu thuẫn đã lâu và kéo dài đến nay đã không còn tôn trọng nhau, không còn nói chuyện được với nhau, hai bên đã tự tạo lập cuộc sống riêng. Nay bà đã hết tình cảm với chồng, hạnh phúc gia đình không có và hôn nhân không có tương lai nên bà yêu cầu được ly hôn ông Hứa Minh Ph.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Hứa Trượng Minh Ph1, sinh ngày: 15/8/2013. Từ trước đến nay thì bà luôn là người trực tiếp nuôi con chung nên nay ly hôn thì bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Bà có nghề làm thuê thu nhập ổn định 9.000.000đ/tháng đủ khả năng nuôi con nên không yêu cầu ông Ph phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Trượng Thị Mỹ Th không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Hứa Minh Ph đã được Tòa án niêm yết công khai các thủ tục tố tụng của Tòa nhưng không đến nên không có lời trình bày.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm:
- Về thủ tục tố tụng:
Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án.
Về việc chấp hành pháp luật tố tụng của đương sự: Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật, tại phiên tòa nguyên đơn vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn vắng mặt mặc dù Tòa án đã thông báo và tống đạt hợp lệ nhiều lần. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định của pháp luật.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Lời trình bày và kết quả tranh tụng của đương sự; Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà Trượng Thị Mỹ Th khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn ông Hứa Minh Ph; Yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định: Quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp ly hôn, người nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Hứa Minh Ph có địa chỉ cư trú tại thôn Tân Đức và đến nay về sống tại thôn Hữu Đức, xã Phước Hữu, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn bà Trượng Thị Mỹ Th vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn ông Hứa Minh Ph đã được Tòa án niêm yết công khai các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Trượng Thị Mỹ Th và ông Hứa Minh Ph tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã Phước Hữu, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận tại số: 175, quyền số: II/2013, ngày 28/8/2013; Xác định đây là hôn nhân hợp pháp.
Theo bà Th trình bày thì vợ chồng không hạnh phúc, đến năm 2021 do vợ chồng mâu thuẫn quá nhiều nên ông Ph đã dọn về nhà cha mẹ ông Phi tại thôn Hữu Đức, xã Phước Hữu, huyện Ninh Phước còn bà và con thì vẫn ở lại địa chỉ cũ tại thôn Tân Đức, xã Phước Hữu, huyện Ninh Phước; Từ khi vợ chồng sống riêng thì hai bên không quan tâm đến nhau, mặc ai nấy sống và tạo lập cuộc sống riêng, ông Phi không hàn gắn vợ chồng mà lại gây căng thẳng thêm. Ông Hứa Minh Ph không đến Tòa làm việc coi như từ bỏ quyền trình bày ý kiến của mình và cho thấy ông Ph không có thiện chí hàn gắn vợ chồng đồng thời chứng tỏ lời trình bày của bà Th là đúng sự thật. Như vậy cuộc sống hôn nhân giữa bà Th ông Ph đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Thực tế này phù hợp với “Đơn xin xác nhận tình trạng hôn nhân” của bà Trượng Thị Mỹ Th về việc vợ chồng mâu thuẫn và được Trưởng ban quản lý thôn Tân Đức, xã Phước Hữu xác nhận vào ngày 25/5/2023 vì vậy, việc bà Trượng Thị Mỹ Th yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Hứa Minh Ph là có cơ sở, phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Bà Trượng Thị Mỹ Th và ông Hứa Minh Ph có 01 con chung tên Hứa Trượng Minh Ph1, sinh ngày: 15/8/2013; Bà Th yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, bà Th có nghề làm thuê thu nhập ổn định 9.000.000đ/tháng đủ khả năng nuôi con nên không yêu cầu ông Ph phải cấp dưỡng nuôi con chung; Xét thấy: Ông Ph và bà Th đã sống riêng từ lâu, con chung luôn ở với bà Th do bà Th trực tiếp nuôi dưỡng, đồng thời tại bản khai ngày 25/5/2023 trẻ Ph1 có nguyện vọng được ở với mẹ nếu như ba mẹ sống riêng vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình giao cho bà Trượng Thị Mỹ Th là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung Hứa Trượng Minh Ph.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Ông Hứa Minh Ph không cấp dưỡng nuôi con chung do bà Trượng Thị Mỹ Th không yêu cầu.
Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Bà Trượng Thị Mỹ Th phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; Khoản 1 Điều 273; Điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trượng Thị Mỹ Th.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trượng Thị Mỹ Th được ly hôn ông Hứa Minh Ph.
2. Về con chung: Giao cho bà Trượng Thị Mỹ Th có quyền và nghĩa vụ trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Hứa Trượng Minh Ph1, sinh ngày: 15/8/2013.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Hứa Minh Ph không cấp dưỡng nuôi con chung do bà Trượng Thị Mỹ Th không yêu cầu.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
4. Về án phí: Bà Trượng Thị Mỹ Th phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm; Số tiền này được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số: 0007389, ngày 24/3/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận. Bà Trượng Thị Mỹ Th đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì Người được thi hành án dân sự, Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Án xử công khai vắng mặt nguyên đơn và bị đơn quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án./.
| Nơi nhận: - Đương sự; - TAND tỉnh Ninh Thuận; - VKSND huyện Ninh Phước; - Chi cục THADS huyện Ninh Phước; - UBND xã Phước Hữu (2013); - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Đăng Cốc |