vanban.org

Bản án 81/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Đặng Thị H đối với ông Nguyễn Chí T. Bà Đặng Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Chí T.

Về nuôi con chung: Giao 01 nguời con chung tên Nguyễn Thị Bảo T, sinh ngày 16/8/2017 cho bà Đặng Thị H trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Chí T không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng quyền thăm con để gây ảnh hưởng đến việc nuôi co… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đặng Thị Hợi - Nguyễn Chí Tâm"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Đặng Thị H đối với ông Nguyễn Chí T. Bà Đặng Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Chí T.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGỌC HIỂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 81/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 22 – 6 – 2023
V/v “Tranh chấp xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC HIỂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Như.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Thị Thu Trà.

Ông Đào Văn Tươi.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ân Tình là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau.

Ngày 22 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 107/2023/TLST–HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2023 về: “Tranh chấp xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2023/QĐXXST–HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 54/2023/QĐST–HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đặng Thị H, sinh năm 1996 (vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Xóm Đ, xã N, huyện T, tỉnh N.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Chí T, sinh năm 1992 (vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: ấp V, xã V, huyện N, tỉnh C.

NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai đề ngày 17/4/2023 nguyên đơn bà Đặng Thị H trình bày:

Về hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Chí T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, sau đó có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện N, tỉnh C. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, thời gian sau vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hoà hợp chung sống không hạnh phúc. Hiện vợ chồng đã ly thân 04 năm nay. Nay xét thấy cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Chí T.

Về nuôi con chung: Bà và ông T có 01 nguời con chung tên Nguyễn Thị Bảo T, sinh ngày 16/8/2017. Sau khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ông Nguyễn Chí T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng thông báo cho biết việc bà H khởi kiện tại Tòa án nhưng ông T không có ý kiến gì đối với những yêu cầu của bà H và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì cho Tòa án.

Tại đơn xin xét xử vắng mặt ngày 17/5/2023 bà Đặng Thị H trình bày: Bà vẫn giữ quan điểm yêu cầu ly hôn với ông T, yêu cầu nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay do bận đi làm ăn xa nên yêu cầu Toà án xét xử vắng mặt.

Tại phiên tòa: Ông T vắng mặt không lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Bà Đặng Thị H khởi kiện xin ly hôn với ông Nguyễn Chí T, địa chỉ: ấp V, xã V, huyện N, tỉnh C nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Bà Đặng Thị H có đơn xin xét xử vắng; ông Nguyễn Chí T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà H và ông T.

Về nội dung:

Về hôn nhân: Bà Đặng Thị H và ông ông Nguyễn Chí T qua tìm hiểu, tự nguyện kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 41 ngày 29/3/2017 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện N, tỉnh C nên hôn nhân giữa bà H và ông T là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận. Bà H nhận thấy cuộc sống hôn nhân phát sinh nhiều mâu thuẫn do tính tình không hòa hợp, chung sống không hạnh phúc nên bà yêu cầu được ly hôn. Đối với, ông T đã được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng thông báo việc bà H xin ly hôn nhưng ông T không có ý kiến gì đối với yêu cầu của bà H. Xét thấy, mâu thuẫn của bà H và ông T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H, bà H được ly hôn với ông T.

Về nuôi con chung: Gồm có 01 nguời con chung tên Nguyễn Thị Bảo T, sinh ngày 16/8/2017. Sau khi ly hôn bà H yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Ông T không có ý kiến phản hồi về việc yêu cầu nuôi con của bà H.

Hội đồng xét xử xét thấy, con chung vẫn còn nhỏ cần sự chăm sóc của người mẹ và từ khi ly thân đến nay con chung do bà H trực tiếp chăm sóc và bà H có đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung để không làm xáo trộn môi trường sống của con nên căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình quyết định để bà H tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Ông T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở.

Về chia tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà H phải chịu 300.000 đồng. Bà H đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0020412 ngày 18 tháng 4 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Hiển được chuyển thu.

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Đặng Thị H đối với ông Nguyễn Chí T. Bà Đặng Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Chí T.

Về nuôi con chung: Giao 01 nguời con chung tên Nguyễn Thị Bảo T, sinh ngày 16/8/2017 cho bà Đặng Thị H trực tiếp nuôi dưỡng.

Ông Nguyễn Chí T không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng quyền thăm con để gây ảnh hưởng đến việc nuôi con của bà Đặng Thị H.

Về chia tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà Đặng Thị H phải chịu 300.000 đồng. Bà Đặng Thị H đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0020412 ngày 18 tháng 4 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Hiển được chuyển thu.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ