vanban.org

Bản án 81/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Hồ Thị M được ly hôn với anh Nguyễn Văn P.

Về quan hệ con chung: Giao 02 người con chung của anh chị tên: Nguyễn Thị Mộng T, sinh ngày 29 tháng 12 năm 2009 và Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 21 tháng 01 năm 2022 cho chị Hồ Thị M được tiếp tục nuôi dưỡng đến tròn 18 tuổi tự lao động sinh sống được theo nguyện vọng của Nguyễn Thị Mộng T, hiện nay đan… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa chị Hồ Thị M và anh Nguyễn Văn P"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Hồ Thị M được ly hôn với anh Nguyễn Văn P.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN BIÊN
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 81/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 31-7-2023
“V/v ly hôn, tranh chấp về
nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Thảo

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thu Trang

2. Bà Trần Thị Mộng Lành

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thúy Kiều - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Trang Minh Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 19/2023/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 01 năm 2023 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 114/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên toà số: 96/2023/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Hồ Thị M, sinh ngày 28 tháng 10 năm 1988 (có mặt);

Hộ khẩu thường trú: ấp RC, xã T, huyện AB, tỉnh Kiên Giang. Địa chỉ: ấp 9B, xã TH, huyện AM, tỉnh Kiên Giang.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1980 (vắng mặt);

Địa chỉ: ấp RC, xã T, huyện AB, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện ngày 16 tháng 11 năm 2022 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Hồ Thị M trình bày và yêu cầu như sau:

Chị và anh Nguyễn Văn P chung sống với nhau vào năm 2005, đến năm 2015 đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 12 tháng 5 năm 2015. Chị và anh Nguyễn Văn P có 03 người con chung tên: Nguyễn Thành N, sinh ngày 11/8/2006, Nguyễn Thị Mộng T, sinh ngày 29/12/2009 và Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 21/01/2022 hiện nay Nguyễn Thành N đang sống chung với anh Nguyễn Văn P, Nguyễn Thị Mộng T và Nguyễn Ngọc H đang sống chung với chị; về tài sản chung, chị và anh Nguyễn Văn P không có tài sản chung không tranh chấp; về nợ, chị và anh Nguyễn Văn P không có nợ người khác, người khác không nợ chúng chị. Quá trình chung sống chị và anh Nguyễn Văn P sống không hòa hợp, thường xuyên cự cãi bất hòa với nhau, đến tháng 4/2022 chị và anh Nguyễn Văn P sống ly thân cho đến nay. Chị thấy, chị và anh Nguyễn Văn P không còn tình cảm vợ chồng, chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn P. Về quan hệ con chung, khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 người con chung tên: Nguyễn Thị Mộng T, sinh ngày 29/12/2009 và Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 21/01/2022 đến tròn 18 tuổi tự lao động sinh sống được; chị giao người con chung tên: Nguyễn Thành N, sinh ngày 11/8/2006 cho anh Nguyễn Văn P được tiếp tục nuôi dưỡng đến tròn 18 tuổi tự lao động sinh sống được; chị không cấp dưỡng nuôi con và không yêu cầu anh Nguyễn Văn P cấp dưỡng con. Về tài sản chung và nợ, chị không yêu cầu giải quyết, ngoài ra chị không yêu cầu gì khác.

* Tại các Biên bản xác minh ngày 31/01/2023, về nguyên nhân mâu thuẫn và tình trạng hôn nhân:

Chị Hồ Thị M, cư trú tại: ấp 9B, xã TH, huyện AM, tỉnh Kiên Giang và anh Nguyễn Văn P, cư trú tại: ấp RC, xã T, huyện AB, tỉnh Kiên Giang hiện nay anh Nguyễn Văn P đi làm thuê về nhà không xác định được. Trong quá trình anh Nguyễn Văn P và chị Hồ Thị M chung sống thường xuyên cự cãi với nhau, sống không hạnh phúc. Anh Nguyễn Văn P và chị Hồ Thị M chung sống có 03 người con chung, hiện nay từ khi anh chị ly thân Nguyễn Thành N đang sống chung với anh Nguyễn Văn P, Nguyễn Thị Mộng T và Nguyễn Ngọc H đang sống chung với chị Hồ Thị M được anh chị chăm sóc chu đáo, phát triển bình thường.

* Bị đơn anh Nguyễn Văn P: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ cho anh Nguyễn Văn P để anh biết có ý kiến về việc chị Hồ Thị M khởi kiện đối với anh, nhưng anh không có ý kiến gì và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình đối với yêu cầu khởi kiện ly hôn và nuôi con của chị Hồ Thị M nên Toà án tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

* Tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án gồm: Giấy chứng nhận kết hôn Nguyễn Văn P và Hồ Thị M (Bản chính); Giấy chứng minh nhân dân tên Hồ Thị M, sinh ngày 28 tháng 10 năm 1988 và sổ hộ khẩu (Bản sao); Giấy khai sinh Nguyễn Thành N, sinh ngày 11/8/2006, Nguyễn Thị Mộng T, sinh ngày 29/12/2009 và Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 21/01/2022 (Bản sao); Đơn xin xác nhận tình trạng cư trú của đương sự ngày 16/11/2022 của chị Hồ Thị M (Bản chính); 02 Bản trình bày nguyện vọng ngày 04 tháng 7 năm 2023 của Nguyễn Thị Mộng T và ngày 30 tháng 01 năm 2023 của Nguyễn Thành N (Bản chính); 02 Biên bản xác minh ngày 31/01/2023 của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang (Bản chính).

* Tại phiên tòa:

Nguyên đơn chị Hồ Thị M yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn P. Về quan hệ con chung, khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 Nguyễn Thị Mộng T, sinh ngày 29/12/2009 và Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 21/01/2022 theo nguyện vọng của con tên Nguyễn Thị Mộng T; chị giao cho anh Nguyễn Văn P tiếp tục nuôi dưỡng người con chung tên: Nguyễn Thành N, sinh ngày 11/8/2006 theo nguyện vọng của con tên Nguyễn Thành N, chị không cấp dưỡng nuôi con và không yêu cầu anh Nguyễn Văn P cấp dưỡng con. Về tài sản chung và nợ, chị và anh Nguyễn Văn P không có tài sản chung, không tranh chấp, chị cam kết không có nợ, chị không yêu cầu giải quyết, ngoài ra chị không yêu cầu gì khác.

Bị đơn anh Nguyễn Văn P vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

- Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án thực hiện đúng các trình tự thủ tục theo pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo pháp luật luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Nguyễn Văn P vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do đề nghị xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Xét đơn khởi kiện của chị Hồ Thị M yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn P và tranh chấp về nuôi con là có căn cứ chấp nhận nên đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Hồ Thị M được ly hôn với anh Nguyễn Văn P. Về quan hệ con chung, khi anh chị ly hôn giao cho chị Hồ Thị M được tiếp tục nuôi dưỡng 02 người con chung tên Nguyễn Thị Mộng T và Nguyễn Ngọc H theo nguyện vọng của Nguyễn Thị Mộng T; giao cho anh Nguyễn Văn P được tiếp tục nuôi dưỡng người con chung tên: Nguyễn Thành N theo nguyện vọng của Nguyễn Thành N. Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ, chị Hồ Thị M và anh Nguyễn Văn P không yêu cầu giải quyết đề nghị miễn xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Hồ Thị M yêu cầu được ly hôn với bị đơn anh Nguyễn Văn P và nuôi con. Bị đơn anh Nguyễn Văn P cư trú tại: ấp RC, xã T, huyện AB, tỉnh Kiên Giang nên xác định đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Nguyễn Văn P biết và ấn định thời gian để anh có ý kiến về việc chị Hồ Thị M khởi kiện yêu cầu được ly hôn và tranh chấp nuôi con với anh, nhưng anh không có ý kiến gì và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Toà án tổ chức và thông báo cho các bên đương sự để tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anh Nguyễn Văn P vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do. Như vậy, đây là thuộc trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự nên Toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung và tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho chị Hồ Thị M và anh Nguyễn Văn P nhưng anh Nguyễn Văn P vẫn cố tình vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do, đồng thời tại phiên toà chị Hồ Thị M không yêu cầu hoãn phiên toà. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh Nguyễn Văn P theo quy định tại khoản 2 Điều 227, điểm b khoản 1 Điều 238 và Điều 241 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Xét về quan hệ hôn nhân, chị Hồ Thị M và anh Nguyễn Văn P chung sống với nhau vào ngày 09 tháng 02 năm 2005 âm lịch, có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (Ủy ban nhân dân xã T, AB, Kiên Giang là một trong những nơi anh chị cư trú) và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 80/2015, quyển số 01/2015 ngày 12/5/2015, anh chị đảm bảo các điều kiện kết hôn khác theo quy định của pháp luật là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận theo quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình.

Xét khởi kiện của chị Hồ Thị M được ly hôn với anh Nguyễn Văn P, thời gian chị và anh Nguyễn Văn P chung sống thường xuyên cự cãi bất hòa với nhau và anh Nguyễn Văn P có mối quan hệ với người phụ nữa khác, sống không hạnh phúc, đến tháng 4/2022 chị và anh Nguyễn Văn P sống ly thân cho đến nay, anh Nguyễn Văn P không có liên hệ, hỏi thăm. Chị thấy, chị và anh Nguyễn Văn P không còn tình cảm vợ chồng nên chị yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn P, nhưng anh Nguyễn Văn P không có ý kiến yêu cầu gì, không quan tâm đến việc chị Hồ Thị M yêu cầu ly hôn với anh là vi phạm nghĩa vụ giữa vợ chồng thời gian dài, vợ chồng không chăm sóc, lo lắng lẫn nhau mà anh chị không có biện pháp hàn gắn để chung sống với nhau nên hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay chị Hồ Thị M cương quyết yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn P. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị Kiểm sát viên và yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị M, cho chị Hồ Thị M được ly hôn với anh Nguyễn Văn P là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về quan hệ con chung, chị Hồ Thị M và anh Nguyễn Văn P có 03 người con chung tên: Nguyễn Thành N, sinh ngày 11/8/2006, Nguyễn Thị Mộng T, sinh ngày 29/12/2009 và Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 21/01/2022, hiện nay Nguyễn Thị Mộng T và Nguyễn Ngọc H đang chung sống với chị Hồ Thị M, còn Nguyễn Thành N đang chung sống với anh Nguyễn Văn P. Khi ly hôn, chị Hồ Thị M yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 người con chung tên Nguyễn Thị Mộng T và Nguyễn Ngọc H theo nguyện vọng của Nguyễn Thị Mộng T; giao cho anh Nguyễn Văn P được tiếp tục nuôi dưỡng người con chung tên Nguyễn Thành N theo nguyện vọng của Nguyễn Thành N; anh Nguyễn Văn P không có ý kiến yêu cầu gì, đồng thời con chung của anh chị từ khi anh chị ly thân đến nay Nguyễn Thị Mộng T và Nguyễn Ngọc H sống chung với chị Hồ Thị M, Nguyễn Thị Mộng T có nguyện vọng chung sống với chị Hồ Thị M và Nguyễn Thành N chung sống với anh Nguyễn Văn P có nguyện vọng chung sống với anh Nguyễn Văn P đã thích nghi với cuộc sống hiện tại. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, yêu cầu của chị Hồ Thị M, nguyện vọng của Nguyễn Thành N và Nguyễn Thị Mộng T, giao 02 người con chung của anh chị tên Nguyễn Thị Mộng T và Nguyễn Ngọc H cho chị Hồ Thị M được tiếp tục nuôi dưỡng; giao người con chung của anh chị tên Nguyễn Thành N cho anh Nguyễn Văn P được tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con, chị Hồ Thị M và anh Nguyễn Văn P không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Về tài sản chung và nợ, chị Hồ Thị M tự xác định, anh chị không có tài sản chung, chị Hồ Thị M cam kết anh chị không có nợ người khác, người khác không có nợ anh chị và chị không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp chia tài sản chung và nợ thì được xem xét giải quyết bằng vụ kiện khác.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 207, khoản 2 Điều 227, điểm b khoản 1 Điều 238, Điều 241, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 9, khoản 1 Điều 51, Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTV QH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Hồ Thị M được ly hôn với anh Nguyễn Văn P.

2. Về quan hệ con chung: Giao 02 người con chung của anh chị tên: Nguyễn Thị Mộng T, sinh ngày 29 tháng 12 năm 2009 và Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 21 tháng 01 năm 2022 cho chị Hồ Thị M được tiếp tục nuôi dưỡng đến tròn 18 tuổi tự lao động sinh sống được theo nguyện vọng của Nguyễn Thị Mộng T, hiện nay đang chung sống với chị Hồ Thị M. Giao người con chung của anh chị tên Nguyễn Thành N, sinh ngày 11 tháng 8 năm 2006 cho anh Nguyễn Văn P được tiếp tục nuôi dưỡng đến tròn 18 tuổi tự lao động sinh sống được theo nguyện vọng của Nguyễn Thành N, hiện nay đang chung sống với anh Nguyễn Văn P.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Hồ Thị M và anh Nguyễn Văn P không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

4. Về tài sản chung và nợ, chị Hồ Thị M tự xác định, anh chị không có tài sản chung, chị Hồ Thị M cam kết anh chị không có nợ người khác, người khác không có nợ anh chị và chị không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp chia tài sản chung và nợ thì được xem xét giải quyết bằng vụ kiện khác.

5. Về án phí: Buộc chị Hồ Thị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003844 ngày 30 tháng 01 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Chị Hồ Thị M đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 31/7/2023. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ