- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cướp tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt MVN 24 (Hai mươi bốn) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 02/5/2022,
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 81/2022/HSST Ngày: 17/08/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Văn Nghiêm
Các Hội thẩm:
1. Ông Trần Mạnh Khang (Giáo viên)
2. Bà Nguyễn Văn Hải (Giáo viên)
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Linh – Thư ký Tòa án nhân
dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội: Bà Trần Thị
Lý – Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 17 tháng 08 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoài
Đức, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số:
81/2022/TLST - HS ngày 28 tháng 7 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
85/2022/HSST-QĐ ngày 04/08/2022 đối với bị cáo:
MVN, sinh ngày 06 tháng 6 năm 2005 (Thời điểm phạm tội 16 tuổi 10 tháng 26
ngày); HKTT và nơi ở: thôn P, xã T, huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái; Nghề nghiệp: Lao
động tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Khơ mú; Tôn giáo:
Không; Con ông: S, con bà: T; Tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ tạm giam
ngày 02/5/2022 - có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Bạch MVN Kiên – Trợ giúp viên pháp lý –
Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Hà Nội – Có mặt
Giám hộ cho bị cáo: Ông S, sinh năm 1979; cư trú tại: thôn P, xã T, huyện Trạm
Tấu, tỉnh Yên Bái – Có mặt
Người bị hại:
Chị T, sinh năm 1990; Nơi cư trú: thôn 5, xã C, huyện Quốc Oai, thành phố Hà
Nội – Vắng mặt có lý do
Người có quyền lợi ngĩa vụ liên quan:
1. Chị VXT, sinh năm 1995; anh NKV, sinh năm 1993; cùng cư trú: xóm Đ, thôn
2, xã T, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội
2. Anh P, sinh năm 1989; Nơi cư trú: thôn 4, xã Đ, huyện Yên Định, tỉnh Thanh
Hóa – vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 02/5/2022, MVN một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu
Honda Wave, biến số: 36R3- 9776 đi từ công viên Hòa Bình ra đường gom bên phải đại lộ Thăng Long hướng trung tâm Hà Nội đi Hòa Lạc. MVN đi đến gần cầu chui số 3 đoạn thuộc thôn An Thọ, xã An Khánh, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội thấy chị VXT đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, biển số 29V7-380.68 chở chị T ngồi sau, đi cùng chiều với MVN. Do thấy chị Thủy đeo chéo 01 (một) chiếc túi xách bằng da màu đen trên vai trái nên MVN nảy sinh ý định cướp giật chiếc túi xách của chị Thủy. MVN điều khiển xe mô tô từ phía sau vượt bên phải áp sát xe mô tô của chị Thúy, đồng thời MVN dùng tay trái giật mạnh chiếc túi xách của chị Thủy. Thấy bị giật túi chị Thủy đã dùng tay giữ phần dây đeo của túi thì MVN tiếp tục giật mạnh chiếc túi về phía MVN làm xe mô tô chị Thúy đang điều khiển loạng choạng, đổ nghiêng bên phải khiến chị Thúy và chị Thủy ngã văng ra đường. Lúc này, MVN điều khiển xe máy tăng ga bỏ chạy nhưng bị ngã rồi đâm vào biển quảng cáo của anh Phạm Văn Trường (Sinh năm 1973; Nơi cư trú: thôn Đông Cường, xã Nam Thanh, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình) đang dựng trên vỉa hè. Chị Thủy và chị Thúy hô hoán mọi người xung quanh biết việc MVN vừa cướp giật chiếc túi xách của chị Thủy nên anh Trường cùng một số người dân đã giữ MVN giao cho Cơ quan Công an.
Thu giữ vật chứng: 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số
36R3-9776, số khung: 018568, số máy: 1225099, đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, biển số 29V7-380.68, số khung: 056951, số máy: 2068050, đã qua sử dụng; 01 (một) túi xách màu đen bằng da, có dây đeo bằng da và bằng kim loại màu vàng, đã qua sử dụng; 01 (một) Căn cước công dân mang tên T; 01 (một) thẻ ATM ngân hàng Vietcombank mang tên T; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A51 màu xanh, số Imei 1: 356161110150869, số Imei 2: 356162110150867 bên trong lắp 02 (hai) sim số: 0988.837.718 và sim số: 0868.502.008, đã qua sử dụng; Số tiền 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) tiền ngân hàng Việt Nam.
- Biên bản làm việc ngày 03/5/2022 tại Phòng khám đa khoa 7A Quang Vinh
cung cấp: Ngày 02/5/2022 tiếp nhận chị VXT và chị T trong tình trạng bị xây xát ở cổ chân khớp gối, qua chụp chiếu không có tổn thương về xương, chẩn đoán chấn thương phần mềm vùng gối và cổ chân.
Kết luận định giá tài sản số: 222/KL-HĐĐGTS ngày 09/5/2022, Hội đồng định
giá tài sản trong Tố tụng hình sự
01 (một) túi xách màu đen, bằng da, có dây đeo bằng da và bằng kim loại màu vàng,
đã qua sử dụng, mua mới từ tháng 4/2021, thời điểm định giá là ngày 02/5/2022, kết luận định giá tài sản của Hội đồng là: 131.000 đồng (một trăm ba mươi mốt nghìn đồng).
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A51 màu xanh, số
Imei 1: 356161110150869, số Imei 2: 356162110150867 đã qua sử dụng, mua mới từ tháng 6/2020, thời điểm định giá là ngày 02/5/2022, kết luận về giá tài sản của Hội
đồng là: 2.350.000 đồng (hai triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng). Tổng cộng là:
2.481.000 đồng (hai triệu bốn trăm tám mươi mốt nghìn đồng)
- Xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, biển số: 29V7 – 380.68, số khung:
056951, số máy: 2068050, cũ đã qua sử dụng từ tháng 02/2018 bị hư hỏng tại thời
điểm định giá là 02/5/2022, kết luận về giá tài sản của Hội đồng là: 993.000 đồng (chín
trăm chín mươi ba nghìn đồng).
Tại bản cáo trạng số 79/CT- VKS ngày 28/07/2022, của Viện kiểm sát nhân dân
huyện Hoài Đức truy tố MVN về tội "Cướp giật tài sản" theo điểm đ khoản 2 Điều 171
Tại phiên toà: Bị cáo thừa nhận hành vi cướp giất tài sản của mình như bản cáo
trạng đã truy tố. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa đã xem xét
toàn diện các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thông qua việc xét hỏi, tranh luận công
khai tại phiên tòa đã luận tội và kết luận: Do không có tiền tiêu sài nên khoảng 17 giờ
ngày 02/5/2022 tại đường gom bên phải đại lộ Thăng Long hướng trung tâm Hà Nội đi
Hòa Lạc thuộc khu vực thôn An Thọ, xã An Khánh, huyện Hoài Đức, MVN đã có
hành vi dùng xe mô tô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ đen xám, biển số 36R3-9776
(dùng thủ đoạn nguy hiểm) làm phương tiện để thực hiện hành vi đi cướp giật tài sản là
01 (một) chiếc túi xách màu đen của chị T (lúc này chị Thủy đang ngồi phía sau xe mô
tô nhãn hiệu Honda Airblade, biển số 29V7-380.68 do chị VXT điều khiển) nhưng chị
Thủy giữ lại được. Sau đó, MVN tiếp tục giật mạnh chiếc túi về phía MVN làm xe mô
tô do chị Thúy điều khiển loạng choạng và đổ nghiêng bên phải khiến chị Thúy và chị
Thủy ngã ra đường còn MVN thì điều khiển xe máy tăng ga bỏ chạy nhưng bị ngã và
bị quần chúng nhân dân bắt giữ. Bên trong túi xách của chị Thủy có: 01 (một) chiếc
điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A51, 01 (một) thẻ căn cước công dân,
01 (một) thẻ ATM ngân hàng Vietcombank mang tên T và số tiền 500.000 đồng (năm
trăm nghìn đồng) với tổng trị giá tài sản cướp giật là: 2.981.000 đồng là có đủ dấu hiệu
cấu thành tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hính sự. Do
vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị
cáo MVN về tội "Cướp giật tài sản" như nội dung bản cáo trạng. Tại cơ quan điều tra
và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo là người dân tộc thiểu số. Đề nghị
Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 171; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51;
Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo MVN mức án từ 30 đến 36 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không
có yêu cầu, bị cáo phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo, bị hại có
quyền kháng cáo bản án theo luật định.
Lời nói sau cùng của bị cáo hối hận với hành vi cướp giật và tỏ ra ăn năn hối lỗi
về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội; đề
nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo mức hình phạt thấp để bị cáo có cơ
hội sửa chữa, tái hòa nhận cộng đồng làm người có ích cho gia định và cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ :
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm
tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Công an huyện Hoài Đức, Điều tra
viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng hình sự. Đến thời điểm mở phiên tòa không có người tham gia tố tụng nào có ý kiến và khiếu nại. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Hội đồng xét xử nhận định hành vi phạm tội của bị cáo như sau [1]
Do không có tiền tiêu sài, khoảng 17 giờ ngày 02/5/2022 tại đường gom bên
phải đại lộ Thăng Long hướng trung tâm Hà Nội đi Hòa Lạc thuộc khu vực thôn An Thọ, xã An Khánh, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, bị cáo MVN đã có hành vi dùng xe mô tô tô nhãn hiệu Honda Wave biển số 36R3-9776 làm phương tiện để thực hiện hành vi cướp giật 01 chiếc túi da trị giá 131.000 đồng; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A51 trị giá 2.350.000 đồng và 500.000đồng. Tổng giá trị tài sản bị cáo cướp giật được là 2.981.000 đồng. Hành vi dùng xe máy là phương tiển nguy hiểm nhanh chóng, bất ngờ chiếm đoạt tài sản của người khác là có đủ dấu hiệu cấu thành tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự. Do vậy, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, tương ứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, khi xem xét đến lượng hình, Hội đồng xét xử đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi người phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của vụ án, thấy [2]:
Tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã
hội. Vì không có tiền ăn tiêu mà bị cáo đã dùng phương tiện nguy hiểm thực hiện hành vi cướp giật tài sản của người khác trong khi các phương tiện đang tham gia giao thông trên đường, dẫn đến cả hai xe bị đổ ngã là rất nguy hiểm có thể gây hậu quả đến tính mạng, sức khỏe của bị cáo, bị hại và những người tham gia giao thông trên đường. Trong khi bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi cướp giật tài sản của người khác là bất hợp pháp và vi phạm pháp luật nghiêm trọng, đã xâm phạm trực tiếp đến tài sản của người khác và có thể xâm phạm đến tính mạng sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự trị an cho xã hội, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Do vậy cần có mức án nghiêm khắc đối với bị cáo, để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung [3].
Nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ: Bị cáo chưa có tiền án tiền sự,
nhưng không chịu tu dưỡng bản thân để làm người có ích cho gia đình và cho xã hội, có lối sống buông thả và phạm tội. Tuy nhiên, sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn nhận tội để các cơ quan tiến hành nhanh kết thúc vụ án; bị cáo là người dân tộc thiểu số, có hoàn cảnh gia đình khó khăn. Đây được coi là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ phần hình phạt cho bị cáo [4].
Tài sản bị cáo cướp giật đã trả lại tòan bộ cho bị hại; Chiếc xe mô tô nhãn hiệu
Honda Airblade, biển số: 29V7 - 380.68, bị hư hỏng là: 993.000 đồng, nhưng chị VXT và anh NKV không yêu cầu bồi thường, nên không xét.
Vật chứng: chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, biển số 36R3- 9776, số máy
1225099, số khung 018568 anh P để chỗ làm cho các công nhân đi lại, Anh Phượng
không biết bị cáo lấy xe dùng vào việc phạm tội nên trả lại cho Phượng là có cơ sở[5].
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng kháng theo
quy định ; Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm [6].
Vì các căn cứ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; Điều 38, Điều 91, Điều 101; điểm s khoản 1,
khoản 2 Điều 51; tuyên bố bị cáo MVN phạm tội ”Cướp giật tài sản”.
Xử phạt MVN 24 (Hai mươi bốn) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 02/5/2022,
tiếp tục giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều
331, Điều 332, Điều 333 và Điều 336 Bộ luật tố tụng hình sự; áp dụng Nghị quyết số
326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Vật chứng: Trả cho anh P chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ đen xám,
biển số 36R3- 9776, số máy 1225099, số khung 018568. Vật chứng hiện ở Chi cục thi
hành án dân sự huyện Hoài Đức theo biên bản bàn giao ngày 28/07/2022
Buộc bị cáo phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, người bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền
kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận - TANDTP Hà Nội; - VKSND huyện Hoài Đức - Chị cục THA huyện Hoài Đức; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ; | Đỗ Văn Nghiêm |