- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Hữu C trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ Q TỈNH Q | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 81/2022/HS-ST Ngày : 30/8/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ Q
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: ông Phan Hùng
Hội thẩm nhân dân: ông Đinh Đức Thành, ông Đàm Chí Thân
- Thư ký phiên toà: bà Mai Thùy Dung - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Q, tỉnh Q.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Q - Tỉnh Q tham gia phiên toà: ông Phạm Tiến Bình - Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Q, tỉnh Q xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 79/2022/HS-ST ngày 08/8/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2022/QĐXXST- HS ngày 16/8/2022 đối với bị cáo:
LÊ ĐỨC C
Tên gọi khác: không. Sinh ngày 26/7/1983, tại thị xã Q, tỉnh Q. Nơi thường trú: khu 8, phường P, thị xã Q, tỉnh Q. Họ và tên bố: Lê Đức V, sinh năm: 1966; họ và tên mẹ: Pham Thị Y, sinh năm 1966. Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh, tôn giáo: không. Trình độ văn hóa: 4/12, nghề nghiêp: tự do. Bị cáo có 4 anh chị em ruột, bị cáo là con thứ hai trong gia đình. Vợ: Nguyễn Thị Mai, sinh năm 1995. Có hai con, con nhỏ sinh năm 2018, con lớn sinh năm 2017. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo đầu thú ngày 23/5/2022, bị tạm giữ đến ngày 01/6/2022 bị áp dụng biện pháp “cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Công ty TNHH sản xuất thương mại dịch vụ TĐĐ
Địa chỉ: khu 8, phường P, thị xã Q, tỉnh Q
Đại diện theo ủy quyền: anh Tô Tiến H, sinh năm 1986.
Nơi cư trú: khu 8, phường P, thị xã Q, tỉnh Q, vắng mặt tại phiên tòa (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Người làm chứng: anh Dương Hoài T, sinh năm 1990
Nơi cư trú: khu 8, phường P, thị xã Q, tỉnh Q, vắng mặt tại phiên tòa.
Anh Dương Văn P, sinh năm 1992
Nơi cư trú: khu 8, phường P, thị xã Q, tỉnh Q, vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: khoảng 18 giờ 00 phút, ngày 15/5/2022, LÊ ĐỨC C đi vào bãi trộn bê tông của Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất thương mại TĐĐ tại khu 8, phường P, thị xã Q, tỉnh Q, thấy 04 thanh cốt pha bằng kim loại của Công ty TNHH sản xuất thương mại TĐĐ, không có ai trông coi nên dùng xe máy không rõ biển kiểm soát mượn của anh Dương Hoài T chở 04 thanh cốt pha đến cửa hàng thu mua phế liệu tại thôn 3, xã Liên Hòa, thị xã Q của anh Dương Văn P bán với giá 700.000 đồng. Ngày 19/5/2022, anh Tô Tiến H là thủ kho, được ủy quyền quản lý tài sản công ty trách nhiệm hữu hạn TĐĐ phát hiện mất 04 thanh côt pha đã trình báo Cơ quan Công an. Ngày 23/5/2022, LÊ ĐỨC C đến công an phường P, thị xã Q đầu thú khai nhận hành vi phạm tội.
Bản kết luận định giá tài sản số 32/KL-HĐĐG, ngày 24/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Q kết luận: 03 thanh kim loại dạng hình hộp chữ nhật đều có chiều dài 06 m, chu vi hình hộp chữ nhật là 30 cm, đã qua sử dụng có giá trị là 1.960.200 đồng; 01 thanh kim loại dạng hình hộp chữ nhật có chiều dài 2,98 m, chu vi hình hộp chữ nhật là 30 cm, đã qua sử dụng có giá trị là 181.500 đồng. Tổng giá trị là 2.141.700 đồng .
Tại cơ quan điều tra, LÊ ĐỨC C thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Về trách nhiệm dân sự: quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q đã trả lại Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất thương mại TĐĐ số tài sản trên, Công ty không có yêu cầu bồi thường dân sự.
Tại bản Cáo trạng số 80/CT - VKSQY ngày 05/8/2022, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Q đã truy tố bị cáo LÊ ĐỨC C về tội “trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Q vẫn giữ quan điểm truy tố bị cáo theo nội dung Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điêu 51; khoản 1,2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt LÊ ĐỨC C: từ 06 tháng đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng về tội “trộm cắp tài sản” kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND phường P, thị xã Q, tỉnh Q quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự. Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 129/LCCT-TA và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh số 162/2022/HSST-TA ngày 10/8/2022 của Tòa án nhân dân thị xã Q, tỉnh Q đối với bị cáo LÊ ĐỨC C.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo nói lời sau cùng: xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
* Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an thị xã Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Q, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó: các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.
Về hành vi phạm tội:
Trong quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo LÊ ĐỨC C khai nhận hành vi trộm cắp phù hợp với nội dung bản Cáo trạng. Tại phiên tòa, bị cáo LÊ ĐỨC C khai: bị cáo không có công việc nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để bán lấy tiền. Khoảng 17 giờ ngày 15/5/2022, bị cáo mượn của anh Dương Hoài T một xe mô - tô đến trạm trộn bê- tông của công ty TNHH TĐĐ thấy 04 thanh cốt pha để ở trong bãi, không có ai trông nên nảy sinh ý định trộm cắp. Bị cáo đã trộm cắp 04 thanh cốt pha rồi dùng xe mô tô chở đến cửa hàng thu mua phế liệu của anh Dương Văn P tại thôn 3, xã Liên Hòa, thị xã Q để bán, nhưng lúc đó tại cửa hàng không có ai nên bị cáo để 04 thanh cốt pha ở lại cửa hàng. Đến 07 giờ sáng ngày 16/5/2022, bị cáo quay lại gặp anh Dương Văn P bán 4 thanh cốt pha được số tiền 700.000 đồng. Ngày 23/5/2022, bị cáo đến Công an phường P đầu thú.
Đại diện theo ủy quyền của bị hại anh Tô Tiến H khai: khoảng 19 giờ 19/5/2022, anh Hữu làm thủ kho của Công ty TNHH TĐĐ phát hiện mất 04 thanh kim loại dạng hình hộp chữ nhật, Công ty mua vào tháng 4/2022 nên đã đến Công an trình báo.
Người làm chứng anh Dương Văn P khai: khoảng 06 giờ 30 phút, ngày 16/5/2022, anh P đi đến cửa hàng thu mua phế liệu tại thôn 3, xã Liên Hòa, thị xã Q thì thấy có 04 thanh kim loại dạng hình hộp chữ nhật. Khoảng 07 giờ cùng ngày, Chí đến nói với anh P số sắt là của Chí mang đến bán, anh P cân được 70 kg, trả cho Chí 700.000 đồng. Anh P không biết số sắt trên do Chí trộm cắp mà có, Chí không nói với anh P nguồn gốc số sắt trên. Anh P đã giao 04 thanh cốt pha cho Công an và không yêu cầu Chí phải trả số tiền 700.000 đồng.
Anh Dương Hoài T khai: khoảng 17 giờ ngày 15/5/2022, LÊ ĐỨC C có mượn của anh Thanh chiếc xe Honda- Wave, màu trắng, không nhớ biển kiểm soát. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày thì Chí mang xe về trả. Chiếc xe anh Thanh cho Chí mượn là của anh Mạnh nhà bên Hải Phòng. Anh Mạnh đã cầm xe về Hải Phòng.
Như vậy, lời khai của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác trong vụ án. Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận: khoảng 18 giờ 00 phút, ngày 15/5/2022, tại bãi trộn bê tông của Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất thương mại TĐĐ thuộc khu 8, phường P, thị xã Q, tỉnh Q, LÊ ĐỨC C đã trộm cắp 04 thanh sắt cốt pha trị giá 2.141.700 đồng của Công ty trách nhiệm hữu hạn TĐĐ.
Hành vi nêu trên của bị cáo LÊ ĐỨC C phạm vào tội “ trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm;
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sở hữu tài sản, gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội được pháp luật bảo vệ. Lợi dụng khoảng thời gian công trường không có người trông coi, LÊ ĐỨC C đã trộm cắp 04 thanh cốt pha, trị giá 2.141.700 đ của Công ty TNHH sản xuất thương mại dịch vụ TĐĐ. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “trộm cắp tài sản’ quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cho nên việc đưa bị cáo ra xử lý trước pháp luật là cần thiết, đáp ứng yêu cầu phòng chống các tội phạm xâm phạm sở hữu về tài sản trong tình hình hiện nay.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo LÊ ĐỨC C không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi vi phạm. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i,s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Hội đồng xét xử thấy: bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt nên không cần thiết phải cách ly bị cáo với xã hội mà để bị cáo cải tạo ngoài xã hội để thấy sự khoan hồng của pháp luật.
Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q đã trả 04 thanh cốt pha cho Công ty TNHH sản xuất thương mại dịch vụ TĐĐ, đại diện theo ủy quyền của Công ty không có yêu cầu gì khác.
Vấn đề khác: đối với anh Dương Văn P đã mua 04 thanh cốt pha do Chí trộm cắp với số tiền 700.000 đ nhưng không biết là tài sản do phạm tội mà có, anh P không yêu cầu Chí phải trả lại số tiền này nên Hội đồng xét xử không xét.
Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): xét bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 260 Bộ luật Tố tụng hình sự.
1. Về tội danh:
Bị cáo LÊ ĐỨC C phạm tội “ trộm cắp tài sản”
2. Về điều luật áp dụng:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; khoản 1,2,5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.
3. Về mức hình phạt :
Xử phạt LÊ ĐỨC C: 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo LÊ ĐỨC C cho UBND phường P, thị xã Q, tỉnh Q quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự. Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 129/LCCT-TA và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh số 162/2022/HSST- TA ngày 10/8/2022 đối với LÊ ĐỨC C của Tòa án nhân dân thị xã Q, tỉnh Q.
4. Về án phí hình sự sơ thẩm, quyền kháng cáo: căn cứ khoản 1-2 Điều 135, khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí; Luật phí và lệ phí.
Bị cáo LÊ ĐỨC C phải nộp 200.000 đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án. NƠI NHẬN:
T M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM -TAND tỉnh Q;
| -Viện KSNDTX Quảng Yên; -Viện KSND tỉnh Q; -Cơ quan CSĐTCATX Quảng Yên; - Sở tư pháp Quảng Ninh -UBND phường P; -Chi cục THADSTX Quảng Yên; -Những ngưòi tham gia tố tụng; -Lưu hồ sơ; văn phòng. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phan Hùng |