vanban.org

Bản án 81/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Lê Chân, TP. Hải Phòng Tuyên án 30/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 khúc gỗ dài 105cm, rộng 07cm (Theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu vật chứng ngày 21/7/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ nhà nước. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đ - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 khúc gỗ dài 105cm, rộng 07cm (Theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu vật chứng ngày 21/7/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân).
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LÊ CHÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 81/2022/HS-ST
Ngày 30-8-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Thùy Linh

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Bích Lý

Ông Nguyễn Văn Hạnh

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đ Hoàng - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Thư - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 70/2022/TLST-HS ngày 21 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 224/2022/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:

Đỗ Văn Đ, sinh ngày 16 tháng 10 năm 1994 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn Tân Nam, xã Đ, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn N và bà Phạm Thị H; có vợ là Nguyễn Thị Huyền C và 02 con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Bản án số 70/2012/HSST ngày 25/9/2012 bị Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy, Hải Phòng xử phạt 09 tháng tù về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản (đã được xóa án tích); bị tạm giữ ngày 13/5/2022; tạm giam ngày 20/5/2022; có mặt.

Bị hại: Nguyễn Sơn T, sinh năm 1989; trú tại: Số 24/732 N, phường N, quận Lê Chân, thành phố Hải phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 12/5/2022 Đỗ Văn Đ đi bộ trong ngõ 732 N, phường N, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng nhằm mục đích xem ai có sơ hở thì trộm cắp tài sản. Khi đi đến nhà số 24/732 N, Đ quan sát thấy trong sân có dựng chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Airblade BKS 15B4-061.72 của anh Nguyễn Sơn T, sinh năm 1989; trú tại: Số 24/732 N, phường N, quận Lê Chân, thành phố Hải phòng. Đ ra quán nước ngồi đợi đến khoảng 23 giờ 30 phút rồi quay lại vẫn thấy xe máy trên dựng ở sân, cổng khóa, trong nhà đã tắt đèn đi ngủ. Đ nhặt một khúc gỗ dài 105cm, rộng 07cm ở dưới đất gần cổng, đẩy vào thanh giằng phía trên cổng 4 đến 5 cái làm mối hàn và cánh cổng bung ra, Đ vứt khúc gỗ xuống đất rồi bê cánh cổng sang một bên. Xe máy chỉ khóa điện không khóa cổ, khóa càng nên Đ dắt xe máy ra khỏi cổng đi ra đường N, qua C xuống đường T, phường L, quận Kiến An, Hải Phòng. Anh Nguyễn Sơn T đang ngủ nghe thấy tiếng động phía dưới cửa nhà nhưng nghĩ không phải của nhà mình nên khoảng 15 phút sau mới đi xuống kiểm tra thì phát hiện mất xe máy. Anh T báo công an phường N cùng bảo vệ dân phố truy tìm xe. Khi tìm đến khu vực nhà số 102 T thì phát hiện Đ đang dắt xe máy của anh T nên yêu cầu dừng lại. Công an phường đã đưa Đ cùng vật chứng về trụ sở làm rõ.

Tại Kết luận định giá số 25/KL-HĐ ngày 13/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Lê Chân kết luận: Giá trị còn lại của chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Airblade BKS 15B4-061.72 là 27.300.000 đồng (hai mươi bẩy triệu ba trăm nghìn đồng).

Tại hiện trường, Cơ quan Công an đã thu giữ được tại vị trí mặt đất phía ngoài bên cổng ra vào nhà số 24/732 N, phường N, quận Lê Chân, Hải Phòng 01 thanh gỗ hình vuông dài 105cm, rộng 07cm, một đầu vuông cạnh, một đầu bị gãy không rõ hình dạng.

Tại phiên tòa, Đỗ Văn Đ khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án nêu, phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu khác có trong hồ sơ.

Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo Đỗ Văn Đ và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Đỗ Văn Đ mức án từ 18 đến 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường nên không xét.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng dân sự: Vật chứng của vụ án là 01 khúc gỗ dài 105cm, rộng 07cm xét không còn giá trị sử dụng đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Đối với việc Đỗ Văn Đ khai hai ngày trước khi bị bắt có mua ma túy của một nam giới không quen biết ở khu vực 354 Đ, An Lão, Lê Chân, Hải Phòng, hiện tài chưa xác định được lai lịch đối tượng này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân tách ra, tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Lê Chân, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện là đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về căn cứ xác định tội danh, điều luật áp dụng và quyết định hình phạt:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai bị hại, vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ thể hiện: Vào hồi 23 giờ 30 ngày 12/5/2022, tại số nhà 24/732 N, N, Lê Chân, Hải Phòng, bị cáo Đỗ Văn Đ đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe máy hiệu Honda Airblade BKS 15B4-061.72 trị giá 27.300.000 đồng sau đó bị phát hiện bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đối với bị cáo Đỗ Văn Đ về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ, gây mất trị an xã hội nên cần phải xử lý bằng bản án nghiêm, bắt cách ly xã hội một thời gian để răn đe bị cáo đồng thời tạo điều kiện để bị cáo cai nghiện ma túy.

- Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân bị cáo có 01 tiền án, mặc dù đã được xóa án tích nhưng cho thấy bị cáo là người có ý thức chấp hành pháp luật kém, không biết lấy đó làm bài học cho bản thân mà vẫn tiếp tục phạm tội.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng:

Tài sản bị cáo chiếm đoạt gồm 01 xe máy hiệu Honda Airblade BKS 15B4-061.72 trị giá 27.300.000 đồng đã được thu hồi trả lại bị hại. Bị hại không có yêu cầu bồi thường nên không xét. Vật chứng của vụ án là 01 khúc gỗ dài 105cm, rộng 07cm là công cụ, phương tiện phạm tội, xét không còn giá trị sử dụng đề nghị tịch thu tiêu hủy.

- Về hình phạt bổ sung:

Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự thì bị cáo có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên xét bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về án phí:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Đỗ Văn Đ 24 (hai mươi tư) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 13 tháng 5 năm 2022.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 khúc gỗ dài 105cm, rộng 07cm (Theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu vật chứng ngày 21/7/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ nhà nước.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

- Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ