vanban.org

Bản án 81/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 30/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Lê Phi L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Truy thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 900.000đồng (chín trăm nghìn đồng) đối với bị cáo Lê Phi L. Buộc bị cáo Lê Phi L bồi thường thiệt hại về tài sản cho bà Nguyễn Thị Hà K với số tiền 1.440.000 đồng (một triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - Lê Phi L - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Lê Phi L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VẠN NINH
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 81/2022/HS-ST
Ngày 30 tháng 11 năm 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨAVIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH - TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Phan Ngọc Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Tám - Cán bộ hưu trí

Ông Đồng Minh Sơn - Giáo viên

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quý Võ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh - tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh - tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Bá Sử - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh - tỉnh Khánh Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 77/2022/TLST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2022/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2022, đối với bị cáo:

Lê Phi L - sinh năm: 1992 tại Vạn Ninh - Khánh Hòa; nơi cư trú: thôn L, xã V, huyện N, tỉnh Khánh Hòa; giới tính: Nam; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê T và bà Nguyễn Thị X; bị cáo chưa có vợ con;

Tiền sự: Không.

Tiền án: Tại bản án số 67/2020/HS-ST ngày 10/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/11/2021, đã nộp án phí hình sự sơ thẩm ngày 07/5/2021.

Nhân thân:

Ngày 17/5/2019, bị Công an thị trấn Vạn Giã xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”.

Ngày 30/10/2022, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Vạn Ninh khởi tố bị can về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo đang bị tạm giam trong vụ án khác tại Trại tạm giam Công an tỉnh Khánh Hòa. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

1. Bà Nguyễn Thị Hà K - sinh năm 1975; trú tại: Thôn H, xã V, huyện N, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt.

2. Em Nguyễn Thị Như Đ - sinh năm 2006; trú tại: Thôn T, xã Vạn Lương, huyện N, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt.

Người đại diện theo pháp luật của em Nguyễn Thị Như Đ: Ông N Ninh, tỉnh

Khánh Hòa; vắng mặt.

3. Em Trần Thị Thanh U - sinh năm 2009; trú tại: Thôn H, xã V, huyện N, tỉnh H; vắng mặt.

Người đại diện theo pháp luật của em Trần Thị Thanh T: Ông Trần Quốc T và bà Nguyễn Thị Mai H; trú tại: Thôn H, xã V, huyện N, tỉnh K; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị Mai H; trú tại: Thôn H, xã V, huyện N, tỉnh H; vắng mặt.

2. Ông Lê T - sinh năm 1949; trú tại: Thôn H, xã B, huyện N, tỉnh H; vắng mặt.

3. Bà Hồ Thị N - sinh năm 1971; trú tại: Tổ dân phố số A, thị trấn V, huyện N, tỉnh H; vắng mặt.

4. Bà Nguyễn Thị T - sinh năm 1978; trú tại: Tổ dân phố số B, thị trấn V, huyện N, tỉnh H; vắng mặt.

- Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị Thúy - sinh năm 1986; trú tại thôn Q, xã C, huyện N, tỉnh H; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Phi L là người có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích. Trong tháng 5/2022, L đã 03 lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản trên địa bàn huyện Vạn Ninh, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất:

Vào trưa ngày 17/5/2022, Lê Phi L sử dụng xe mô tô 79L4-0607 cha ruột (của ông Lê T) đi từ nhà lòng vòng trên các con đường ở Hiền Lương – Vạn Lương – Vạn Ninh – Khánh Hòa để tìm tài sản của ai sơ hở thì chiếm đoạt. Đến khoảng 12h15’ cùng ngày khi đi ngang qua nhà ông Nguyễn Trọng T thì thấy cửa cổng mở, L dừng xe và đi bộ vào cổng thì phát hiện có 01 xe đạp điện hiệu ASAMA của chị Nguyễn Thị Hà K dựng ở sân nhà không ai trông coi, L lén lút tiếp cận rồi dùng tay rút dây điện nối với bình ắc quy rồi lấy đi bình ắc quy xe này. Sau đó, L mang bình ắc quy đến tiệm thu mua phế liệu của bà Hồ Thị Nở tổ dân phố 14 – thị trấn Vạn Giã bán phế liệu được 300.000 đồng, hiện nay chưa thu giữ được bình ắc quy này. Sau khi có tiền L ra Vạn Thắng gặp một người tên Bảy (không rõ lai lịch, địa chỉ) nhờ Bảy mua 150.000 đồng ma túy để sử dụng, số tiền còn lại đã tiêu xài hết.

Tại Kết luận định giá tài sản số 438/KL-TCKH-TTHS ngày 08/7/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Vạn Ninh kết luận: 01 bình ắc quy xe đạp điện (không rõ nhãn hiệu) gắn trên xe đạp điện hiệu ASAMA kích thước (43x20x11)cm bị trộm cắp trị giá 1.440.000 đồng (một triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng).

Vụ thứ hai:

Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 19/5/2022, Lê Phi L điều khiển xe mô tô 79L4-0607 của ông Thìn đi lòng vòng trên các con đường ở thôn Quảng Phước – Vạn Lương – Vạn Ninh – Khánh Hòa tìm tài sản của ai sơ hở thì chiếm đoạt. Khi đi ngang qua khu vực trước trường Vạn Lương 2 thì phát hiện có chiếc xe đạp điện hiệu ASAMA của cháu Trần Nguyễn Thanh T (sinh ngày 07/02/2009) đang dựng trên lề đường phía đối diện với trường Vạn Lương 2 không ai trông coi. L dừng xe rồi đi bộ tiếp cận với xe đạp điện, L dùng tay rút dây điện nối với bình rồi lén lút chiếm đoạt bình ắc quy xe đạp điện trên. Sau đó L đem bình này đến tiệm phế liệu của bà Hồ Thị N ở tổ dân phố số 14 – thị trấn Vạn Giã và bán phế liệu được 300.000 đồng. Sau khi bán xong L đi đến Vạn Thắng gặp người tên Bảy (không rõ lai lịch, địa chỉ) nhờ mua 150.000 đồng ma túy để sử dụng, số tiền còn lại L tiêu xài hết. Đối với chiếc bình ắc quy này đã được cơ quan Công an thu giữ.

Tại Kết luận định giá tài sản số 438/KL-TCKH-TTHS ngày 08/7/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Vạn Ninh kết luận: 01 bình Ắc quy xe đạp điện (không rõ nhãn hiệu) gắn trên xe đạp điện hiệu ASAMA kích thước (43x20x11)cm có tay nắm phía trên bị trộm cắp trị giá 1.440.000 đồng (một triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng).

Vụ thứ ba:

Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 20/5/2022, Lê Phi L điều khiển xe mô tô biển số 79L4-0607 của cha ruột đi từ nhà ra thị trấn Vạn Giã. Khi đi ngang qua khu vực nhà sách Vạn Ninh thuộc tổ dân phố 10 – thị trấn Vạn Giã – Vạn Ninh – Khánh Hòa thì phát hiện có 01 xe đạp điện hiệu ASAMA của Nguyễn Thị Như Đ (sinh ngày 21/01/2006) đang dựng trên vỉa hè trước nhà sách không có ai trông coi nên L nảy sinh ý định chiếm đoạt bình xe đạp điện này. L dừng xe rồi đi bộ tiếp cận xe đạp điện rồi dùng tay tháo bình ắc quy ra khỏi xe đạp điện và lấy chiếc bình này. Sau đó L đem chiếc bình này đến tiệm thu mua phế liệu của bà Nguyễn Thị T ở tổ dân phố số 11 – thị trấn Vạn Giã bán cho T được 300.000 đồng. Sau khi có tiền L đi đến Vạn Thắng gặp người tên Bảy (không rõ lai lịch, địa chỉ) nhờ mua 300.000 đồng tiền ma túy. Bảy lấy tiền rồi đi luôn không trở lại. Sau khi mua chiếc bình ắc quy bà T đập vỡ phần nhựa vỏ bình ở ngoài, bên trong đựng 04 bình ắc quy nhỏ. Cơ quan Công an đã thu giữ 04 bình ắc quy nhỏ, riêng phần vỏ nhựa bị đập vỡ đã bị thất lạc không thu hồi được.

Tại Kết luận định giá tài sản số 440/KL-TCKH-TTHS ngày 04/7/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Vạn Ninh kết luận: 01 bình điện của xe đạp điện hiệu ASAMA, bên trong chứa 04 bình ắc quy nhỏ có tổng giá trị là: 1.260.000 đồng (một triệu hai trăm sáu mươi nghìn đồng).

Vật chứng vụ án:

- Thu giữ của Lê Phi L 01 xe mô tô biển số 79L4-0607, đã xử lý trả lại cho chủ sở hữu là Lê Thìn.

- Thu giữ của Hồ Thị N 01 bình Ắc quy xe đạp điện màu đen kích thước (43x20x11)cm có dạng hình hộp chữ nhật phía trên có tay nắm, đã xử lý trả lại cho chủ sở hữu Nguyễn Thị Mai H.

- Thu giữ của Nguyễn Thị T 04 bình ắc quy nhỏ gồm:

+ 02 (hai) bình ắc quy vỏ màu đen, nhãn hiệu JP, loại 12V – 12AH, PA12-12.

+ 01 (một) bình ắc quy vỏ màu đen, nhãn hiệu NTB BATTERY 6-DFZ-14 có số Sêri: 190212AYT4-4 1445 0259.

+ 01 (một) bình ắc quy vỏ màu đen, nhãn hiệu SCB, loại bình SP-12-12E, 12V – 13AH

Tất cả đã xử lý trả cho chủ sở hữu Nguyễn Thị Như Đ.

Về dân sự:

- Bị hại bà Nguyễn Thị Hà K yêu cầu bồi thường 1.440.000 đồng trị giá bình ắc quy bị chiếm đoạt.

- Bị hại em Trần Nguyễn Thanh T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Mai H đã nhận lại chiếc bình ắc quy và không có yêu cầu gì.

- Bị hại Nguyễn Thị Như Đ đã nhận lại bình ắc quy, bị hại và người đại diện của bị hại không có yêu cầu gì.

- Người có quyền lợi liên quan ông Lê T đã nhận lại xe mô tô 79L4-0607 và không có yêu cầu gì.

- Người có quyền lợi liên quan Hồ Thị N và Nguyễn Thị T không yêu cầu Lê Phi L bồi thường tiền mua 02 bình ắc quy.

Tại Cáo trạng số: 75/CT-VKSVN ngày 20 tháng 10 năm 2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh - tỉnh Khánh Hòa đã truy tố để xét xử bị cáo Lê Phi L về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Lê Phi L đã khai nhận hành vi phạm tội của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại bà Nguyễn Thị Hà Kh có đơn xin xét xử vắng mặt, đề nghị xét xử bị cáo đúng quy định của pháp luật, yêu cầu bị cáo bồi thường 1.440.000 đồng trị giá bình ắc quy bị chiếm đoạt.

Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo tội danh, khung hình phạt như Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét:

Bị cáo Lê Phi L bị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; đề nghị xử phạt từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Lê Phi L phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho bà Nguyễn Thị Hà Khánh với số tiền 1.440.000 đồng (một triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng).

Không xét về việc bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm giữa bị cáo Lê Phi L đối với bị hại em Trần Nguyễn Thanh T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Mai H, bị hại em Nguyễn Thị Như Đ; không xét bồi hoàn về tài sản giữa bị cáo Lê Phi L với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê T, bà Hồ Thị N và bà Nguyễn Thị T.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo không có tranh luận, nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh. Trong lời nói sau cùng, bị cáo L đã thành khẩn nhận tội, ăn năn hối hận về hành vi vi phạm pháp luật của mình, xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng đều vắng mặt, bị cáo không có ý kiến hoặc yêu cầu gì về sự vắng mặt này; lời khai của họ có tại hồ sơ vụ án, việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Vì vậy, căn cứ các Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Vạn Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về căn cứ định tội: Tại phiên tòa, bị cáo Lê Phi L đã khai nhận hành vi của mình như nội dung Cáo trạng số 75/CT-VKSVN ngày 20 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh - tỉnh Khánh Hòa đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng; phù hợp với vật chứng thu giữ được và các chứng cứ khác đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vạn Ninh thu thập.

Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Lê Phi L là người có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích. Trưa ngày 17/5/2022 tại sân nhà ông Nguyễn Trọng T ở Hiền Lương – Vạn Lương – Vạn Ninh – Khánh Hòa, Lê Phi L đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 bình ắc quy xe đạp điện của bà Nguyễn Thị Hà K trị giá 1.440.000 đồng (một triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng).

Khoảng 16h20’ ngày 19/5/2022 tại đường bê tông thôn Quảng Phước – Vạn Lương – Vạn Ninh – Khánh Hòa, Lê Phi L đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 bình ắc quy xe đạp điện của em Trần Nguyễn Thanh T trị giá 1.440.000 đồng (một triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng).

Khoảng 07h00’ ngày 20/5/2022 tại khu vực vỉa hè trước nhà sách Vạn Ninh thuộc tổ dân phố số 10 – thị trấn Vạn Giã – Vạn Ninh – Khánh Hòa, Lê Phi L đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 bình ắc quy xe đạp điện của em Nguyễn Thị Như Đ trị giá 1.260.000 đồng (một triệu hai trăm sáu mươi nghìn đồng).

Tổng trị giá tài sản chiếm đoạt: 4.140.000 đồng (bốn triệu một trăm bốn mươi nghìn đồng).

Xét thấy, khi thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, bị cáo Lê Phi L đã trên 16 tuổi; là người có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi nhưng do ý thức coi thường pháp luật, không tôn trọng quyền sở hữu tài sản của người khác nên đã cố ý thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội ở địa phương. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm của tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo Lê Phi L bị truy tố, xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, là đúng đắn. Theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, thì:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a)…

b) đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

....”.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lê Phi L đã trực tiếp trộm cắp tài sản 03 lần, mỗi lần đều đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản, do đó hành vi của bị cáo thuộc trường hợp phạm tội nhiều lần được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Bên cạnh đó, bị cáo có nhân thân không tốt, bị Công an thị trấn Vạn Giã xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 47/QĐ-XPHC 17/5/2019. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần áp dụng mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và ngăn ngừa những hành vi tương tự. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để bị cáo thấy sự khoan hồng của Nhà nước mà tích cực cải tạo trở thành người công dân có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Lê Phi L là lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

Bà Hồ Thị N và bà Nguyễn Thị T đã mua các bình ắc quy do bị cáo L bán. Tuy nhiên, khi mua bà N và bà T không biết đây là tài sản do trộm cắp mà có nên không chịu trách nhiệm hình sự về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Đối với xe mô tô 79L4-0607 mà bị cáo L sử dụng làm phương tiện đi trộm cắp là xe của ông Lê Thìn (cha ruột L). Ông Tđể xe ở nhà, L tự ý lấy và sử dụng làm phương tiện đi trộm cắp, ông T không biết việc này nên ông không chịu trách nhiệm hình sự về tội “Trộm cắp tài sản”; Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho ông T là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với người tên “Bảy” mà bị cáo L nhờ đi mua ma túy để sử dụng, hiện chưa xác định được lai lịch, Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ xử lý sau.

Bị cáo L khai có 02 lần sử dụng ma túy, tuy nhiên do không thể xét nghiệm ma túy kịp thời nên không đủ căn cứ để xử phạt vi phạm hành chính đối với L về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy”.

Về trách nhiệm dân sự:

- Bị hại bà Nguyễn Thị Hà K yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 1.440.000 đồng trị giá bình ắc quy bị trộm cắp như kết luận định giá tài sản, bị cáo đồng ý bồi thường nên Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải bồi thường cho bà K số tiền 1.440.000 đồng.

- Bị hại em Trần Nguyễn Thanh T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Mai H đều vắng mặt mặc dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ, căn cứ lời khai và yêu cầu có trong hồ sơ vụ án thì bà Hoàng đã nhận lại chiếc bình ắc quy bị trộm cắp, bà Ho và em Tkhông có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Bị hại em Nguyễn Thị Như Đ vắng mặt mặc dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ, căn cứ lời khai và yêu cầu có trong hồ sơ vụ án thì em Đ đã nhận lại tài sản bị trộm cắp, bị hại và người đại diện của bị hại không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê T đã nhận lại xe mô tô 79L4-0607 và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hồ Thị N và bà Nguyễn Thị T không yêu cầu Lê Phi L hoàn trả lại tiền mua 02 bình ắc quy nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Vật chứng vụ án: Các quyết định xử lý vật chứng, tài liệu, đồ vật của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Vạn Ninh đều phù hợp với quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử không xem xét lại.

Đối với tổng số tiền 900.000đồng (chín trăm nghìn đồng) mà bị cáo có được sau 03 lần bán phế liệu các bình ắc quy, xét đây là tiền do bán tài sản trộm cắp mà có, nên truy thu sung vào Ngân sách Nhà nước.

Về án phí:

- Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Phi L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật với số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

- Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Phi L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật với số tiền 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; Điều 331, Điều 333, Điều 336 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

Xử phạt bị cáo Lê Phi L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

- Căn cứ các điều 47, 48 của Bộ luật Hình sự; các điều 584, 585, 589 của Bộ luật Dân sự,

Truy thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 900.000đồng (chín trăm nghìn đồng) đối với bị cáo Lê Phi L.

Buộc bị cáo Lê Phi L bồi thường thiệt hại về tài sản cho bà Nguyễn Thị Hà K với số tiền 1.440.000 đồng (một triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng).

Không xét về việc bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm giữa bị cáo Lê Phi L đối với bị hại em Trần Nguyễn Thanh T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Mai H, bị hại em Nguyễn Thị Như Đ; không xét bồi hoàn về tài sản giữa bị cáo Lê Phi L với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê T, bà Hồ Thị N và bà Nguyễn Thị T.

Quy định: Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

- Về án phí: Bị cáo Lê Phi L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm với số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) và án phí dân sự sơ thẩm với số tiền 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng).

- Quyền kháng cáo của bị cáo 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; quyền kháng cáo của bị hại, người diện theo pháp luật của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (vắng mặt) là 15 ngày, kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại Điều 6, 7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ