- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Giao bị cáo Trần Văn T cho Uỷ ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An, nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 81/2022/HS-ST Ngày: 15 – 11 – 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Mạnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đặng Văn Trung.
Bà Hoàng Thị Thúy Giang.
- Thư kY phiên tòa: Bà Phạm Thị Huyền Trang – Là Thư kY Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Đậu Công Hữu – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lY số: 77/2022/TLST-HS, ngày 27 tháng 10 năm 2022; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2022/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2022 đối với:
- Bị cáo: Trần Văn T, sinh ngày 10/6/1995 tại huyện N, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm 2, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ H vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên Chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Kh và bà Trần Thị H; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh Hồ Thọ H, sinh ngày 09/7/2003; nơi cư trú: Xóm H, xã X, huyện N, tỉnh Nghệ An. Xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 06 giờ 00 phút ngày 26/7/2022, Trần Văn T cùng Hồ Thọ H, Lê Đình Y, Trần Huy T và anh Đ là bạn của H cùng đi uống bia, sau đó thuê phòng tại số 207, nhà nghỉ Kh thuộc xóm 4 xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An để nghỉ. Do không có điện thoại sử dụng nên khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, quan sát thấy H cùng những người khác đang ngủ nên T đã lén lút lấy trộm chiếc điện thoại Iphone 11 Promax của H đang cắm xạc pin ở dưới chân giường. Đến ngày 28/7/2022, Trần Văn T đã cầm cố chiếc điện thoại trên cho anh Trần Cao Danh với số tiền 3.000.000 đồng để tiêu xài cá nhân.
Tại Bản kết luận định giá số 19/KL-HĐĐGTS ngày 22/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện N kết luận: “01 (một) chiếc điện thoại di động, màu trắng, nhãn hiệu Iphone 11 promax, mặt sau điện thoại bị rạn nứt được sử dụng vào tháng 04/2022, đã qua sử dụng tại thời điểm 26/7/2022 có giá trị là 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng)”.
Bản cáo trạng số 80/CT-VKSNĐ ngày 26/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Nghệ An đã truy tố Trần Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1, Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Văn T mức án từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”; thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về vật chứng: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu trắng, máy đã qua sử dụng, mặt lưng bị nứt vỡ. Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu anh Hồ Thọ H theo đúng quy định pháp luật. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn T nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có tranh luận gì.
Bị hại vắng mặt tại phiên tòa, không có yêu cầu gì về bồi tH dân sự.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có Y kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa bị hại vắng mặt. Xét thấy sự vắng mặt của bị hại không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
. Về tội danh và khung hình phạt: Tại phiên tòa bị cáo Trần Văn T đã khai nhận hành vi của mình phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 26/7/2022, tại xóm 4, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An, Trần Văn T đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone11 Promax của anh Hồ Thọ H có giá trị là 4.500.000 đồng. Với hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản"; tôi danh và khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
. Về hình phạt chính: Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an trên địa bàn, gây tâm lY hoang mang trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần phải xử lY nghiêm nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã tự nguyện ra đầu thú; tự nguyện khắc phục hậu quả. Ngoài ra, bị cáo có ông nội là Trần Văn Sỹ được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự mà bị cáo được hưởng. Xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ; có nơi cư trú ổn định, rõ ràng nên không cần bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo được tự cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng đủ nghiêm, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo lao động tự do, thu nhập không ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu về bồi tH dân sự; nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về vật chứng: Quá trình điều tra đã xử lY vật chứng theo đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
. Đối với hành vi của Trần Cao Danh mua chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, mà Trần Văn T đưa đến bán thì Danh không nhận thức được chiếc điện thoại này do T phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xem xét, xử lY là phù hợp. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
. Các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên có căn cứ chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Văn T 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”, thời gian thử thách 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (15/11/2022).
Giao bị cáo Trần Văn T cho Uỷ ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An, nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố Y vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban tH vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lY và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
| Nơi nhận: [ơ - VKSND huyện N; - Bị cáo; Bị hại; - Chi cục THADS huyện N; - Công an huyện N; - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; - UBND xã N. - Lưu hồ sơ vụ án; VP.TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Huy Mạnh |