- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn."
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần C.
- Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 Về việc thi hành Luật Hôn nhân…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 81/2022/HNGĐ-ST Ngày 27/10/2022. V/v ly hôn (không công nhận vợ chồng); |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đường Anh Sơn;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Ngọc Cúc;
Ông Hoàng Đức Quang.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đình Vạn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Thái Thị Lan - Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 10 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 453/2022/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2022, về việc “Ly hôn (không công nhận vợ chồng)” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Trần C, sinh ngày 01/01/1966; (có mặt)
Địa chỉ: Tổ 7, ấp 1, xã P, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh ngày 31/01/1972; (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ 9, ấp 1, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 29/9/2022 và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn ông Trần C trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông C và bà Nguyễn Thị T kết hôn với nhau vào năm 1993, hôn nhân tự nguyện và có tổ chức lễ cưới, nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật do bận đi làm và không nghĩ đến việc phải đi đăng ký kết hôn.
Quá trình chung sống thời gian đầu có hạnh phúc, sau đó vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn, nguyên do tính tình của hai người không hợp nhau, thường xuyên xảy ra cãi vã. Vì hạnh phúc gia đình ông đã cố gắng níu kéo, nhưng thật sự là không thể hàn gắn được nữa. Sau đó, bà T đã bỏ về sinh sống tại nhà ở thuộc xã T, huyện V từ năm 2001 cho đến nay. Nay tình cảm vợ chồng đã không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được, thời gian vợ chồng sống xa cách đã quá dài, nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn (không công nhận vợ chồng) với bà T.
- Về con chung: Có 04 cháu là Trần Thị Thu T1, sinh ngày 23/9/1994; Trần Thị H, sinh ngày 09/7/1996; Trần Văn H1, sinh ngày 21/11/1998 và Trần Văn B, sinh ngày 28/12/2000. Các con đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Ông C khai không có.
* Bị đơn bà Nguyễn Thị T trong quá trình tham gia tố tụng trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà T kết hôn với ông Trần C vào năm 1993, hôn nhân tự nguyện và có tổ chức lễ cưới, nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định do không am hiểu pháp luật.
Quá trình chung sống thời gian đầu có hạnh phúc, nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên do là không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống. Cả hai đã không còn sống chung từ năm 2001 cho đến nay. Nay ông C khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn (không công nhận vợ chồng) thì bà đồng ý ly hôn.
- Về con chung: Có 04 cháu là Trần Thị Thu T1, sinh ngày 23/9/1994; Trần Thị H, sinh ngày 09/7/1996; Trần Văn H1, sinh ngày 21/11/1998 và Trần Văn B, sinh ngày 28/12/2000. Các con đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà T khai không có.
Do điều kiện công việc riêng của gia đình nên bà T không thể có mặt tại Tòa án theo giấy triệu tập. Bà T đề nghị được vắng mặt phiên tòa xét xử vụ án ly hôn giữa ông Trần C và bà Nguyễn Thị T. Bà T đề nghị Tòa án xem xét và giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
* Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án là đúng quy định pháp luật. Về việc chấp hành pháp luật của các đương sự từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử là đúng theo quy định của pháp luật. Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông Trần C, cho ông C được ly hôn (không công nhận vợ chồng) với bà Nguyễn Thị T; về con chung đã thành niên nên không đặt ra giải quyết; về tài sản chung, nợ chung đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét do các đương sự đều khai không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Ông Trần C có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết “Ly hôn (không công nhận vợ chồng)” với bà Nguyễn Thị T, nơi cư trú tại nhà không số, tổ 9, ấp 1, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ vào khoản 1, khoản 8 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc Hội về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, xác định quan hệ pháp luật của vụ án là “Ly hôn (không công nhận vợ chồng)”, và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.
Bị đơn bà Nguyễn Thị T không có yêu cầu phản tố và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tòa án căn cứ vào khoản 1 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định của pháp luật.
Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần C và bà Nguyễn Thị T tự nguyện kết hôn với nhau và có tổ chức lễ cưới vào năm 1993, nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Nay ông C, bà T có yêu cầu ly hôn thì Tòa án áp dụng các quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết. Căn cứ theo Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc Hội; Điều 11 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, quy định: “Từ sau ngày 01 tháng 01 năm 2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng”, “Nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng thì không được pháp luật công nhận là vợ chồng”. Do vậy, Tòa án không công nhận ông Trần C và bà Nguyễn Thị T là vợ chồng.
Về con chung: Giữa ông C và bà T có 04 con chung là Trần Thị Thu T1, sinh ngày 23/9/1994; Trần Thị H, sinh ngày 09/7/1996; Trần Văn H1, sinh ngày 21/11/1998 và Trần Văn B, sinh ngày 28/12/2000. Các con đã thành niên nên Tòa án không đặt ra giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông C và bà T đều khai tài sản chung và nợ chung không có, vì vậy Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức T, miễn, giảm, T, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ông Trần C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 207, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ vào các Điều 9, 11, 12 và 14 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc Hội; Điều 131 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức T, miễn, giảm, T, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần C.
- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận ông Trần C và bà Nguyễn Thị T là vợ chồng.
- Về con chung: Các cháu Trần Thị Thu T1, sinh ngày 23/9/1994; Trần Thị H, sinh ngày 09/7/1996; Trần Văn H1, sinh ngày 21/11/1998 và Trần Văn B, sinh ngày 28/12/2000 đã thành niên nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Ông C và bà T đều khai tài sản chung và nợ chung không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
2. Về án phí: Ông Trần C phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004561 ngày 03/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị đơn không có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện Vĩnh Cửu; - Chi cục THA dân sự huyện Vĩnh Cửu; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. - | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đường Anh Sơn |