- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đặng Thị Chinh- Hồ Thanh Hùng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị C:
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 81/2022/HNGĐ-ST Ngày: 08 - 07 - 2022. V/v: “T/c ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM - TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đào Duy Mạnh.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Quang Hoạch và ông Đinh Ngọc Hùng.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải Yến – Thư ký Toà án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà: Ông Cao Văn Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 07 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 238/2022/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2022, về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2022/QĐXXST-HNGĐ, ngày 01 tháng 06 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 88/2022/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 06 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đặng Thị C, sinh năm 1978.
- Bị đơn: Anh Hồ Thanh H, sinh năm 1977.
Cư trú tại: Số 447, thôn BH, ấp AC, xã BS, huyện TB, tỉnh Đồng Nai.
(Chị C đề nghị xét xử vắng mặt, anh H vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 14/3/2022 và trong quá trình chuẩn bị xét xử nguyên đơn chị Đặng Thị C trình bày:
Chị Đặng Thị C và anh Hồ Thanh H tự nguyện chung sống vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND xã BS, huyện TN (Nay là TB), tỉnh Đồng Nai vào ngày 06/01/1997.
Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn cãi vã, không tôn trọng nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vợ chồng chị đã sống ly thân hơn ba năm nay, tình cảm dành cho nhau không còn nên chị C đề nghị được ly hôn với anh H để giải thoát cho nhau.
Về con chung: Chị và anh H có 02 con chung là Hồ Chí C, sinh ngày 25/08/1998 và Hồ Trinh T, sinh ngày 21/04/2006. Khi ly hôn, chị C yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Hồ Trinh T; không yêu cầu anh Hồ Thanh H phải cấp dưỡng tiền cho chị C nuôi con chung. Đối với con cháu Hồ Chí C đã thành niên, có đủ năng lực hành vi dân sự và khả năng lao động nên không yêu cầu Toà án giải quyết. Hiện tại chị C đang làm công nhân tại Công ty Dona Pacific, thu nhập bình quân một tháng khoảng 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).
Tài sản chung: Không có tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nợ chung: Chị C cam kết vợ chồng không có nợ chung.
* Trong suốt quá trình chuẩn bị xét xử anh Hồ Thanh H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng nhưng anh H vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến trình bày.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng;
Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Đặng Thị C được ly hôn với anh Hồ Thanh H. Về con chung: Giao cho chị Đặng Thị C được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Hồ Trinh T, sinh ngày 21/04/2006. Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, nợ chung khai không có; bị đơn không có tranh chấp và không có yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết. Buộc nguyên đơn phải nộp án phí DSST về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng dân sự: Chị Đặng Thị C khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Hồ Thanh H hiện đang cư trú tại số nhà 447, thôn BH, ấp AC, xã BS, huyện TB, tỉnh Đồng Nai và tranh chấp ai là người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Vì vậy quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
Chị Đặng Thị C có đơn đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt; anh Hồ Thanh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng là đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án:
2.1. Về yêu cầu xin ly hôn:
Quan hệ hôn nhân giữa chị Đặng Thị C và anh Hồ Thanh H là hôn nhân hợp pháp, vì họ kết hôn tự nguyện, được cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận kết hôn theo đúng quy định tại Điều 5, Điều 6, Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986, không vi phạm các điều kiện cấm kết hôn quy định tại Điều 7, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 nên được pháp luật công nhận, bảo vệ.
Quá trình chuẩn bị xét xử, Tòa án đã kêu gọi chị Đặng Thị C đoàn tụ với anh H nhưng chị C vẫn cương quyết ly hôn vì cho rằng mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng. Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh Hồ Thanh H đến Tòa án để làm việc, vận động hàn gắn mâu thuẫn giữa chị C, anh H nhưng anh H không chấp hành, cố tình vắng mặt mà không có lý do chính đáng, chứng tỏ anh H cũng không có thiện chí hàn gắn hôn nhân của anh chị.
Tại biên bản hỏi ý kiến của cháu Hồ Trinh T thể hiện: “Cha mẹ cháu không còn ở chung nhà với nhau khoảng 03 năm nay, nguyên nhân chính dẫn đến mâu thuẫn giữa cha mẹ cháu là ba cháu không chịu đi làm, không phụ giúp mẹ cháu lo liệu gia đình và nuôi dạy con, hay chửi mắng mẹ cháu”.
Như vậy, có đủ căn cứ xác định mâu thuẫn giữa chị Đặng Thị C và anh Hồ Thanh H đã xảy ra trong thời gian dài, đã trầm trọng, giữa họ không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc đến nhau, hôn nhân không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cần chấp nhận cho chị Đặng Thị C được ly hôn với anh Hồ Thanh H.
2.2. Về con chung:
Chị Đặng Thị C yêu cầu được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung chưa thành niên là Hồ Trinh T, sinh ngày 21/04/2006. Anh Hồ Thanh H không có tranh chấp về việc ai là người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Mặt khác, cháu T cũng có nguyện vọng được ở cùng với chị C. Do đó, tiếp tục giao cho chị Đặng Thị C được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Hồ Trinh T là đảm bảo việc phát triển toàn diện cho con và phù hợp với quy định của pháp luật.
Tạm thời, chị Đặng Thị C không yêu cầu anh Hồ Thanh H phải cấp dưỡng tiền cho chị C nuôi con chung.
2.3. Về tài sản chung: Chị Đặng Thị C và anh Hồ Thanh H không có tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
2.4. Về nợ chung: Chị Đặng Thị C trình bày không có, anh Hồ Thanh H không có tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, chị Đặng Thị C phải nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn.
Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai thì thấy phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228; Điều 238; Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Các Điều 51, Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị C:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị C được ly hôn với anh Hồ Thanh H.
2. Về con chung: Giao cho chị Đặng Thị C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Hồ Trinh T, sinh ngày 21/04/2006;
Tạm thời, chị Đặng Thị C không yêu cầu anh Hồ Thanh H phải cấp dưỡng tiền cho chị C nuôi con chung.
Không ai được cản trở quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của anh Hồ Thanh H.
Vì quyền lợi của con, khi điều kiện thay đổi các đương sự có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không có tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Đặng Thị C phải nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000731 ngày 14/03/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom. Chị Đặng Thị C đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Trảng Bom; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - Chi cục THADS. huyện Trảng Bom; - UBND xã Bắc Sơn - H. Trảng Bom; ( Số 03 ngày 06/01/1997); - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Duy Mạnh |