- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thừa kế tài sản — án dân sự — "Trần Duy C - Trần Duy H"
- Tòa quyết gì? Căn ứ vào khoản 2 Điều 308 và Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự,
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng dân sự đưa n ững ơ quan
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 81/2022/DS-PT Ngày: 27-12-2022 V v: Tran p thừa kế tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bạch Tuyết
Các Thẩm phán:
Bà Vũ T ị Mai Hương
Ông Lại Văn Tùng
- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Hoàng Giang - T ư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Trần Thu Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉn Nam Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 53/2022/TLPT-DS ngày 20 tháng 10 năm 2022 về tranh ch p chia thừa kế tài sản.
Do bản án dân sự sơ t ẩm số 19/2022/DS-ST ngày 19 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh bị kháng cáo, kháng nghị.
Theo Quyết địn đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 144 2022 QĐ-PT ngày 29 tháng 11 năm 2022 giữa á đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Duy C; sin năm 1946
- Bị đơn: Ông Trần Duy H; sin năm 1967
Cùng trú tại: Thôn DD, xã TC, huyện TN, tỉn NĐ.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Bà Trần Thị Th, trợ giúp viên pháp lý n à nước tỉn Nam Định.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Trần Thị Nh; sin năm 1957
2. Bà Trần Thị E; sin năm 1962
Cùng trú tại: Thôn DD, xã TC, huyện TN, tỉn NĐ.
3. Chị Trần Thị H1 (con ông H); sin năm 1991; trú tại: Đội 6, đường Thống Nh t, thị tr n Cổ Lễ, huyện Trực Ninh, tỉn Nam Định.
4. Bà Vũ T ị Nh (vợ ông H); sin năm 1970; trú tại: Thôn DD, xã TC, huyện TN, tỉn NĐ.
- Người kháng cáo: Ông Trần Duy C là nguyên đơn trong vụ án.
- Viện kiểm sát kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh.
Tại phiên toà: Có mặt ông CH, ông H, chị H1, bà Nh, bà E, bà Nh, bà Th.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
T eo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hoà giải, tại phiên toà nguyên đơn ông Trần Duy C trình bày: Bố mẹ ông là cụ Trần Duy Đột (chết năm 1988) và cụ Lương T ị Luân (chết năm 2006), ụ Đột và cụ Luân sin đượ 04 người con chung gồm: Ông là Trần Duy C, bà Trần Thị Nh, bà Trần Thị E, ông Trần Duy H, ngoài ra không có con nuôi, con riêng nào khác. Cụ Đột, cụ Luân khi chết không để lại di chúc. Di sản của cụ Đột và cụ Luân là quyền sử dụng 160m2 đ t thửa 562 tờ bản đồ số 01 năm 1985 thôn Dịch Diệp, xã Trực Chính, c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t (GCNQSDĐ) tạm thời ngày 15-10-1986, trên đ t có ngôi nhà c p 4 và công trình phụ do ông Trần Duy H xây dựng năm 1995, từ khi còn sống bố mẹ ông có cắt ra 19m2 làm ngõ đi ủa gia đìn và nói với các con là k ông ai đượ bán đ t o người khác, tài sản của bố mẹ sử dụng làm nhà thờ tổ tiên, ông là on trưởng có trách nhiệm làm nhà thờ trên đ t của bố mẹ. Năm 2017 ông H ó ý địn bán đ t o người khác, ông, bà Nh và bà E không đồng ý, lú đó ông mới được biết ông H đã làm t ủ tục c p GCNQSDĐ toàn bộ thửa đ t của bố mẹ sang tên vợ chồng ông H vào năm 2004, n ưng k ông được sự đồng ý của ông, bà Nh và bà E, đến năm 2021 vợ chồng ông H lại chuyển n ượng cho con gái là Trần Thị H1. Nay, ông yêu cầu Toà án giải quyết chia thừa kế di sản là quyền sử dụng 160m2 đ t thửa 562 tờ bản đồ số 01 thôn Dịch Diệp, xã Trực Chính và huỷ GCNQSDĐ đối với 141m2 mang tên ông H và GCNQSDĐ mang tên chị H1.
Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án bị đơn ông Trần Duy H trình bày: Về hàng thừa kế, di sản thừa kế có nguồn gốc của cụ Đột, cụ Luân n ư ông CH trình bày là đúng, tài sản của cụ Đột, cụ Luân ban đầu là 160m2 gồm cả 19m2 đ t ngõ đi. Năm 1981 ông CH ra ở riêng mua đ t ở bên trong giáp đ t của bố mẹ, nên bố mẹ ông đã để ra 19m2 mở rộng lối đi cho thửa đ t của gia đìn và để hộ ông CH đi ra ngõ xóm. Năm 1988 ụ Đột chết, cụ Luân, bà Nh, bà E và ông ở trên thửa đ t, k i đó là nhà tranh, vá đ t. Đến năm 1990 ông l y vợ về ở cùng trên đ t, năm 1995 được sự đồng ý của cụ Luân, bà Nh và bà E, ông đã xây dựng bốn gian nhà c p bốn gạ đỏ, lợp ngói và công trình phụ trên diện tí đ t 141m2 và mở lối đi riêng thẳng ra ngõ xóm, còn 19m2 đ t ngõ đi ũ vẫn để cho hộ ông CH sử dụng. Đến năm 2001 bà Nh và bà E mua nhà ở riêng, ngày 02-11-2001 ông có đưa o bà E, bà Nh mỗi người 01 chỉ vàng, k i đó tương đương giá trị mỗi người bằng 1/3 thửa đ t. Đến năm 2003, N à nước khảo sát đ t đai o á ộ dân trong xã, cụ Luân đồng ý cho ông làm gi y tờ đứng tên thửa đ t và bảo bà E ký vào gi y tờ để làm GCNQSDĐ cho ông, do k i đó bà Nh đi làm xa nên bà E đã ký tên thay cả cho bà Nh. Năm 2004 UBND uyện Trực Ninh c p GCNQSDĐ 141m2 mang tên ông. Do cuộc sống vợ chồng ông phải đi làm ăn xa, năm 2021 vợ chồng ông đã uyển quyền sử dụng nhà đ t cho con gái ông là Trần Thị H1. Nay, ông k ông đồng ý chia thừa kế đối với diện tí đ t 141m2.
Người có quyền lợi ng ĩa vụ liên quan là bà Vũ T ị Nh (vợ ông Trần Duy H) nh t trí với nội dung, quan điểm trình bày của ông H.
Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án bà Trần Thị Nh trình bày: Về hàng thừa kế, di sản thừa kế của cụ Đột, cụ Luân n ư ông CH trình bày là đúng. Cụ Đột, cụ Luân chết không có di chúc, nguồn gốc 160m2 đ t là của cụ Đột, cụ Luân được c p từ năm 1972 và ó GCNQSDĐ tạm thời năm 1986, đến năm 1981 ông CH mua đ t ở riêng, năm 2002 bà và bà E ũng mua nhà chỗ khác trả đ t cho bố mẹ, ông H tạm thời sử dụng và trông oi đ t đai, ụ Luân ở cùng ông H để trông nom con cho ông H. Đến năm 2004 ông H đã giả mạo gi y tờ, chữ ký của 02 chị gái để làm thủ tục c p GCNQSDĐ 141m2 cho ông H, còn 19m2 đ t để cho ông CH làm ngõ đi. 01 ỉ vàng là do khi bà mua nhà phải vay mượn nhiều vợ chồng ông H tự đưa o bà mượn, bà đã đem trả nhiều lần n ưng vợ chồng ông H không chịu nhận, đến k i ưới con ông H, bà đã trả 01 chỉ vàng bằng việc mừng đám ưới. Nay, bà yêu cầu chia di sản thừa kế là 160m2 đ t và yêu cầu huỷ GCNQSDĐ đối với 141m2 mang tên ông H c p năm 2004 và GCNQSD đ t mang tên chị H1 c p năm 2021.
Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án bà Trần Thị E trình bày: Về hàng thừa kế, di sản thừa kế của cụ Đột, cụ Luân n ư ông CH trình bày là đúng. Sau khi cụ Đột, cụ Luân chết ó để lại thửa đ t 160m2, ông H sử dụng 141m2 đã được c p GCNQSDĐ, ông CH mua nhà ở riêng từ năm 1981 được sử dụng 19m2 ngõ đi và 08 miếng ruộng. Năm 2001 bà Nh và bà mua đ t ở chỗ khác có nhận 01 chỉ vàng để đi mua n à (01 chỉ vàng có giá trị tương đương mỗi người bằng 1/3 thửa đ t) năm 2003 n à nước khảo sát các hộ dân trong xã để c p sổ đỏ, khi làm thủ tục tại xã, bà Nh đi làm ăn xa, ụ Luân đã bảo bà kí thay bà Nh để làm thủ tục c p GCNQSDĐ cho ông H. Bà E và bà Nh đã n ận chung 01 chỉ vàng để mua chỗ ở khác, còn ông CH đã sử dụng 19m2 ngõ đi và 08 miếng ruộng của cụ Luân, nếu Toà án phân chia di sản thì bà xin n ường kỷ phần của bà cho ông H.
Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án chị Trần Thị H1 trình bày: Ông bà nội chị còn sống đã o bố chị sử dụng 141m2 đ t, ông CH 19m2 ngõ đi và 08 miếng ruộng. Bố mẹ chị đã xây n à và á ông trìn p ụ trên đ t và sinh sống trên thửa đ t đó. Đến năm 2021 do bố mẹ chị đi làm ăn xa, bố mẹ chị đã làm t ủ tục sang n ượng thửa đ t cho chị sử dụng và đã được c p GCNQSDĐ mang tên chị. Nay ông CH yêu cầu chia thừa kế thì chị k ông đồng ý.
Kết quả thẩm địn , định giá tài sản thửa đ t đang tran
p có diện tích 141m2, ó giá 800.000đồng/01m2. Trên đ t có tài sản của ông H xây dựng năm 1995, giá trị còn lại sau khi trừ kh u hao bao gồm: Nhà c p 4 trị giá 37.133.460 đồng; bể nước trị giá 3.825.000 đồng; thống nước 975.000 đồng; bếp 2.088.000 đồng; nhà tắm 3.510.000 đồng; chuồng gà 1.778.400 đồng; sân bê tông 5.508.000 đồng, tổng trị giá 55.037.860 đồng.
Uỷ ban nhân dân (UBND) xã Trực Chính cung c p: Nguồn gố đ t của cụ Đột, cụ Luân được N à nước c p từ năm 1972 - 1973, diện tí đ t 160m2 được thể hiện trên bản đồ 1985, đ t cụ Đột giáp thửa đ t của cụ Nên có hình thành 01 lối đi n ỏ nằm trong số diện tích 160m2. Năm 1990 N à nướ đo đạ đ t đai toàn dân để lập bản đồ năm 1991, k i đó ụ Đột đã ết, cụ Luân còn sống, có vợ chồng ông H, bà Nh, bà E sống trên thửa đ t đã tự để ra 01 phần đ t của gia đìn làm ngõ đi ung với thửa đ t hộ ông CH phía trong, do đó diện tí đ t của cụ Đột, cụ Luân chỉ còn 141m2 và ông H kê k ai đ t àng năm từ 1991 đến nay thể hiện 141m2. Năm 2004 t ực hiện việc c p GCNQSDĐ cho toàn dân trong xã, hộ cụ Luân đã làm t ủ tục chuyển quyền sử dụng đ t cho ông Trần Duy H 141m2, bà Nh, bà E đã mua t ửa đ t k á ùng t ôn để sinh sống. Thủ tục kê khai chuyển quyền sử dụng đ t lú đó òn đơn giản, gia đìn ụ Luân ó đơn xin uyển quyền sử dụng đ t có thôn xóm xác nhận, đ t không có tranh ch p, khi làm thủ tục c p GCNQSDĐ, UBND xã đã t ông báo ông k ai k ông ai có ý kiến gì, vì vậy UBND huyện đã p GCNQSDĐ cho ông H quyền sử dụng 141m2. Quan điểm của chính quyền địa p ương đề nghị Toà án giải quyết t eo quy định của pháp luật.
Từ nội dung trên, bản án dân sự sơ t ẩm số 19/2022/DS-ST ngày 19 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh đã quyết định:
Căn ứ á Điều 609, 610, 611, 612, 613; khoản 1 Điều 623; á Điều 649, 650, 651, 357 Bộ luật Dân sự (BLDS); các Điều 147, 157 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS); Nghị quyết số 326 UBTVQH14 ngày 30 t áng 12 năm 2016 ủa Ủy ban T ường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án,
1. Xử bác yêu cầu khởi kiện chia thừa kế đối phần di sản của cụ Luân. Ch p nhận một phần yêu cầu chia thừa kế của ông Trần Duy C đối với di sản được mở thừa kế và phân chia theo pháp luật là 70,5m2 đ t ở, có nguồn gốc của cụ Trần Duy Đột;
2. Buộc ông Trần Duy H và bà Vũ T ị Nh phải trả giá trị kỷ phần cho ông Trần Duy C và bà Trần Thị Nh, mỗi người 11.280.000đồng, tương đương 1 5 giá trị tài sản của cụ Đột để lại (70,5m2 : 5 = 14,1m2 x 800.000đ 1m2 = 11.280.000đồng);
3. Ông Trần Duy C và bà Trần Thị Nh có quyền được nhận kỷ phần là 11.280.000đồng (mười một triệu ai trăm tám mươi ngàn đồng) tương đương 1 5 giá trị tài sản của cụ Đột để lại;
4. Chị Trần Thị H1 (con của ông Trần Duy H và bà Vũ T ị Nh) vẫn có quyền sở hữu tài sản và quyền sử dụng đ t 141m2, số thửa 984 tờ bản đồ 4PL3 bản đồ 1991 đã được c p GCNQSDĐ mang tên chị H1, số chứng nhận CS02248 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Nam Định c p ngày 12-9-2021.
Ngày 29-7-2022 ông Trần Duy C là nguyên đơn trong vụ án ó đơn k áng cáo với nội dung: Không nh t trí với bản án sơ t ẩm vì năm 2005-2006 ông H tự ý tá đ t làm GCNQSDĐ mang tên ông H và tự tách 19 m2 đ t làm ngõ đi ung ông k ông được biết, từ năm 2017 ông đã đề nghị UBND xã giải quyết tranh ch p diện tí đ t 160m2, UBND xã lại xác nhận đ t không có tranh ch p để làm thủ tục tặng o đ t từ vợ chồng ông H sang cho chị H1 là k ông đúng, c p sơ t ẩm không triệu tập UBND xã Trự C ín và Văn p òng Đăng ký đ t đai, p òng Tài nguyên và Môi trường huyện Trực Ninh tham gia tố tụng để ông được có ý kiến về việc c p GCNQSDĐ o ị H1 k ông đúng p áp luật, đề nghị c p phúc thẩm xét xử lại huỷ GCNQSDĐ mang tên ị Trần Thị H1, chia thừa kế di sản của bố mẹ ông t eo quy định của pháp luật, ông xin nhận bằng hiện vật để làm nhà thờ gia tiên, đồng thời đề nghị xá định 19m2 ngõ đi vào n à ông là di sản thừa kế của bố mẹ ông để lại cho các con.
Ngày 02-8-2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh có Quyết định kháng nghị với nội dung: Trình tự, thủ tục c p GCNQSDĐ o ông H, bà Nh năm 2004, p GCNQSDĐ o ị H1 năm 2021 là trái quy định của pháp luật, việc Toà án c p sơ t ẩm chỉ ch p nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là k ông đúng, ần xá định di sản thừa kế của cụ Luân và cụ Đột là toàn bộ thửa đ t số 984 tờ bản đồ số 4PL3 tại thôn Dịch Diệp, xã Trực Chính, khi chia thừa kế phải xem xét công sứ đóng góp ủa ông H, bà Nh, xá định tài sản trên đ t là của ông H, bà Nh nên chia cho ông H bằng hiện vật buộc ông H thanh toán bằng giá trị cho những người thừa kế khác gồm ông CH và bà Nh, mỗi người 28.200.000 đồng, đề nghị huỷ GCNQSDĐ ủa ông Trần Duy H, thu hồi GCNQSDĐ đ t của chị Trần Thị H1.
Tại phiên toà phúc thẩm: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, các đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, người kháng cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và trình bày: Đề nghị xá định di sản thừa kế là 160m2 đ t, không phải chỉ có 141m2, việc ông H tự ý kê khai chỉ có 141m2 anh chị em khác không biết nên không chịu trách nhiệm. Đối với việc ông H làm nhà trên đ t bố mẹ để ở ũng giống n ư bà Nh, bà E trướ đây ũng làm n à tạm để ở trên đ t n ưng đến khi chuyển đi ỗ khác phải dỡ nhà trả đ t bố mẹ, chứ không phải cứ o làm n à là đương n iên o đ t, ưa k i nào trong gia đìn nói về việc cho ông H đ t. Mà từ khi còn sống bố ông đã giao GCNQSDĐ tạm thời cho ông là on trưởng quản lý và dặn lại phải giữ đ t của cha mẹ, k ông được bán. Nay ông H ó ý định bán đ t k ông bán được lại làm Hợp đồng chuyển n ượng cho con gái trong khi con gái ông H đã ó ỗ ở đàng hoàng khác thì anh chị em không nh t trí, đề nghị chia thừa kế cho ông bằng hiện vật để ông xây dựng nơi thờ cúng bố mẹ n ư lời bố ông dặn.
Trợ giúp viên pháp lý bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho ông CH trình bày: Trình tự thủ tục c p GCNQSDĐ o ông H k ông đúng, ụ Luân không biết chữ n ưng k ông điểm chỉ mà ông H đã thừa nhận ông H tự ký chữ ký cụ Luân, còn chữ ký bà Nh lại do bà E ký, trong khi ông CH nhà ở ngay p ía sau đang giữ GCNQSDĐ tạm thời thì k ông đượ đưa ký, n ư vậy GCNQSDĐ của ông H là không hợp pháp, do đó Hợp đồng tặng cho chị H1 là vô hiệu, đề nghị Hội đồng xét xử kiến nghị thu hồi các GCNQSDĐ đã p k ông đúng p áp luật và xác định di sản là toàn bộ 160m2, ia đ t ngõ và diện tích 141m2 cho ông CH xây nhà thờ cúng cha mẹ, buộc ông CH thanh toán bằng giá trị cho những người thừa kế khác.
Ông H trình bày: Do cụ Luân không biết chữ nên ông đã ký t ay ữ ký cụ Luân, còn ai ký chữ ký bà Nh t ì ông đi làm xa nên k ông biết. Việ GCNQSDĐ đứng tên ông mặ dù trong gia đìn k ông ó sự thỏa thuận, n ưng quá trìn làm thủ tụ 2 năm mới xong không ai có ý kiến gì, nay ông không nh t trí chia thừa kế vì ông đã làm n à, vẫn có nhu cầu ở, ông đã đượ địa p ương xác nhận thông tin về ư trú, ông ũng là on trai, nên ũng ó t ể xây nơi t ờ cúng bố mẹ.
Bà Nh trìn bày: Bà ưa bao giờ nghe cụ Luân hay ai nói về việ o đ t ông H, ông H làm n à để ở tạm trên đ t bố mẹ vì ưa mua được chỗ k á ũng giống n ư bà trướ đây k i đi p ải tự dỡ nhà trả lại đ t cho bố mẹ, do không có việc thỏa thuận giao đ t cho ông H nên gi y tờ mới phải ký giả chữ ký của bà, cụ Luân và không đưa ông CH ký. Việc bà Nh tự đưa o bà 01 ỉ k i bà mua đ t do k i đó bà p ải vay mượn r t nhiều, bà đã nói là bà vay, n ưng đến khi bà trả ông H bà Nh lại không nhận, bà đã p ải trả thông qua việc mừng đám ưới con ông H, bà Nh. Nay bà đề nghị chia thừa kế phải tín đủ 160m2 đ t, không phải chỉ có 141m2, bà và ông CH xin nhận bằng hiện vật, bà tự nguyện giao kỷ phần của bà cho ông CH để làm nhà thờ cúng cha mẹ.
Bà E xác nhận, trong gia đìn
ưa k i nào ó việc thỏa thuận cho ai sử dụng thửa đ t, n ưng ụ Luân có nói với bà về việ làm GCNQSDĐ o ông H và bảo bà ký thay chữ ký bà Nh, bà vẫn sống cùng với bà Nh và bà Nh đã n ận 01 chỉ vàng của ông H bà Nh. Nay, nếu chia thừa kế bà tự nguyện n ường kỷ phần của bà đượ ưởng cho ông H.
Bà Nh trình bày: Cụ Luân ưa k i nào nói trước mặt các con về việc cho ai thửa đ t, n ưng trướ đây bà có nghe cụ Luân nói giữa ông H và bà Nh nếu ai ở trên đ t thì phải đưa o người đi ỗ ở khác 01 chỉ vàng, khi bà Nh dỡ n à đi mua chỗ ở khác có nói cô chú tính thế nào nên bà đã p ải đi vay đưa o bà Nh 01 chỉ vàng, nay vợ chồng bà đã làm n à trên đ t, đã được c p GCNQSDĐ nên không nh t trí chia thừa kế.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉn Nam Định phát biểu quan điểm: Những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã p àn đúng n ững quy định của BLTTDS. Về nội dung: Khi c p GCNQSDĐ o ông H chỉ ó đơn g i họ tên Trần Thị Đột, k ông đúng tên ụ Luân, cụ Luân ũng k ông biết chữ, ông H, bà E xác nhận k ông đúng ữ ký của cụ Luân và bà Nh. Ông Hải -Trưởng thôn xác nhận ông Hải không chứng kiến việc cụ Luân và anh chị em làm đơn chia tách, nên k ông đủ ăn cứ xá định đơn ia tá đ t là ý chí của cụ Luân. Đồng thời, k i đó ụ Đột đã ết, k ông ó văn bản thỏa thuận của á người thừa kế khác của cụ Đột, nên việc c p GCNQSDĐ o ông H là không hợp pháp. N ư vậy, khi làm thủ tục tặng o để c p GCNQSDĐ o ị H1 ông H, bà Nh ưa phải là chủ sử dụng hợp pháp, nên hợp đồng tặng cho không có hiệu lực và địa p ương đã biết về việc thửa đ t có tranh ch p vẫn làm thủ tục c p GCNQSDĐ cho chị H1 là không hợp pháp. Ngay từ đầu nguyên đơn đã yêu cầu hủy GCNQSDĐ, Tòa án c p huyện vẫn thụ lý giải quyết vụ án là k ông đúng thẩm quyền, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ t ẩm để xét xử lại. Về nội dung, t ay đổi nội dung kháng nghị đề nghị chia di sản thừa kế bằng hiện vật o á bên đương sự và do ông CH là người già, có công với cách mạng đề nghị xem xét miễn án phí cho ông CH.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và ăn ứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Đối với k áng áo ủa ông CH về việ c p sơ t ẩm không triệu tập UBND xã Trự C ín và Văn p òng Đăng ký đ t đai, p òng Tài nguyên và Môi trường huyện Trực Ninh tham gia tố tụng để ông được có ý kiến về việc c p GCNQSDĐ o ị H1 k ông đúng p áp luật và quan điểm của Viện kiểm sát tỉn Nam Định về việc cần tuyên huỷ các GCNQSDĐ đã p o á đương sự nên vụ án thuộc thẩm quyền Tòa án nhân dân c p tỉnh là không ó ăn ứ ch p nhận bởi lẽ: Tại câu 2 mục II Công văn 64/TANDTC-PC ngày 03-4-2019 về t ông báo kết quả giải đáp trự tuyến một số vướng mắ về ìn sự, dân sự và tố tụng àn ín ướng dẫn n ư sau: “T eo quy định của Luật Đ t đai và Ng ị định số 43/2014 NĐ-CP ngày 15-5-2014 của Chính phủ thì việc c p lại GCNQSDĐ hoặc xác nhận nội dung biến động trong trường hợp thực hiện hợp đồng ( á trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 105 của Luật Đ t đai) là t ủ tục hành chính trong giao dịch dân sự, không mang tính ch t của quyết định hành chính cá biệt; ơ quan, tổ chức có thẩm quyền sẽ thực hiện việ đăng ký biến động, c p lại GCNQSDĐ trên ơ sở kết quả giao dịch có hiệu lực. Cho nên, khi giải quyết tranh ch p về Hợp đồng chuyển quyền sử dụng đ t mà Hợp đồng đó bị vô hiệu, n ưng người nhận chuyển quyền đã được c p GCNQSDĐ hoặ đã được xác nhận nội dung biến động thì không đưa ơ quan có thẩm quyền trong việc c p GCNQSDĐ tham gia tố tụng và không cần phải tuyên hủy GCNQSDĐ c p cho người nhận chuyển n ượng. Khi Tòa án tuyên Hợp đồng chuyển quyền sử dụng đ t vô hiệu t ì Văn p òng đăng ký đ t đai, ơ quan Tài nguyên và Môi trường ăn ứ vào bản án, quyết định của Tòa án để giải quyết, điều chỉnh biến động hoặc c p lại GCNQSDĐ phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án”. Do vậy, việc c p sơ t ẩm k ông đưa UBND xã Trự C ín và Văn p òng Đăng ký đ t đai, p òng Tài nguyên và Môi trường huyện Trực Ninh tham gia tố tụng là đúng, đồng thời, khi đã c p GCNQSDĐ o ị H1 t ì GCNQSDĐ ủa ông Trần Duy H đã không còn giá trị và t eo ướng dẫn của Công văn 64 nêu trên, k ông cần phải tuyên huỷ đối với GCNQSDĐ được c p cho chị H1 mà ơ quan n à nước có thẩm quyền sẽ ăn ứ vào quyết định của bản án của Tòa án để c p lại GCNQSDĐ phù hợp với quyết định của bản án và n ư vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân c p huyện là đúng.
Xét kháng cáo của ông CH và quan điểm của bà Nh về việc không nh t trí với bản án sơ t ẩm xá định di sản thừa kế của cụ Đột, cụ Luân chỉ có 141m2, không có 19m2 đ t ngõ đi th y rằng: Theo hồ sơ địa chính, bản đồ gốc năm 1985 và quan trọng là GCNQSDĐ tạm thời của hộ cụ Trần Duy Đột được UBND huyện Nam Nin ( ũ) p ngày 15-10-1986 đều thể hiện thửa đ t của cụ Đột, cụ Luân có diện tích là 160m2, tại bản đồ gố năm 1985 hoàn toàn không thể hiện ngõ đi, quá trìn sử dụng, ngõ đi được hình thành do nhu cầu đi lại, tuy nhiên các đương sự đều xác nhận toàn bộ diện tích đ t ngõ được tách ra từ thửa đ t của cụ Đột. Việc bản đồ năm 1991 t ửa đ t của cụ Đột không còn diện tí đ t ngõ mà thể hiện là ngõ đi ung là do ông H tự ý tách đ t làm GCNQSDĐ mang tên ông H và tự ý không kê khai 19 m2 đ t ngõ đi vào thửa đ t của gia đìn , không phải là ý chí thống nh t của cả ông CH và bà Nh, nên không thể buộc ông CH và bà Nh phải chịu trách nhiệm về việ đó. Mặt khác, diện tí đ t ngõ từ khi thuộc thửa đ t của cụ Đột được c p GCNQSDĐ tạm thời o đến nay ưa k i nào ó quyết định thu hồi đ t của ơ quan n à nước có thẩm quyền, hiện trạng thửa đ t của các hộ giáp ngõ đều đã có một mặt giáp đường đi ung ủa xóm, không có hộ nào khác bắt buộc phải sử dụng diện tí ngõ đi này mới có lối ra đường, trừ hộ ông CH, nên ó ăn ứ ch p nhận kháng cáo của ông CH và quan điểm của bà Nh về nội dung này, xá định 19m2 đ t ngõ đi là di sản của cụ Đột, cụ Luân, hiện ông CH có nhu cầu sử dụng làm ngõ đi nên sẽ được tính vào kỷ phần để chia thừa kế cho ông CH.
Xét nội dung kháng cáo của ông CH và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh về việc do trình tự, thủ tục c p GCNQSDĐ o ông H, bà Nh năm 2004, p GCNQSDĐ o ị H1 năm 2021 trái quy định của pháp luật, nên việc Toà án c p sơ t ẩm chỉ ch p nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ỉ chia thừa kế đối với phần di sản của cụ Đột là k ông đúng th y rằng: Khi c p GCNQSDĐ o ông H thủ tục chỉ ó đơn g i tên Trần Thị Đột, trong khi cụ Đột đã ết, cụ Luân không biết chữ, ông H, bà E xác nhận đơn k ông đúng ữ ký của cụ Luân và bà Nh, mà do ông H và bà E ký thay, ông Hải
- Trưởng t ôn ũng k ông ứng kiến việc cụ Luân làm đơn, nên k ông ó ơ sở xá địn đơn đó đã thể hiện đúng ý chí của cụ Luân, ũng k ông ăn ứ nào khác xác định cụ Luân ó quan điểm o đ t ông H, do vậy việc c p sơ t ẩm xá định phần quyền của cụ Luân đã tặng cho ông H là không ó ăn ứ, mà cần ch p nhận kháng cáo và kháng nghị về nội dung này, xá định di sản thừa kế của cụ Luân và cụ Đột là toàn bộ thửa đ t có diện tích 160m2 để chia thừa kế.
Do đã xá định ông H và bà Nh ưa ó quyền sử dụng hợp p áp đối với diện tí đ t n ư n ận định ở phần trên, nên xá định Hợp đồng tặng cho tài sản giữa ông H, bà Nh với chị H1 vào ngày 04-5-2021 là vô hiệu.
Đối với nội dung kháng nghị về việc khi chia thừa kế phải xem xét công sức quản lý di sản của ông H, bà Nh th y rằng: Căn ứ án lệ số 05/2016/AL về “Tranh ch p chia di sản thừa kế được lựa chọn từ Quyết địn Giám đốc thẩm số 39/2014/DS-GĐT ngày 09-10-2014 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì khi quyết định việc chia thừa kế phải xem xét về công sứ đóng góp ủa người quản lý di sản. Sau khi cụ Luân chết, vợ chồng ông H là người quản lý di sản nên cần tính công sức cho ông H bằng 1 su t thừa kế. N ư vậy, xá định di sản là 160m2 sẽ được chia thành 5 phần bằng nhau, xá định mỗi su t thừa kế là 32m2 đ t. Do bà E ó quan điểm tự nguyện n ường kỷ phần thừa kế đượ ưởng cho ông H, còn bà Nh ó quan điểm tự nguyện giao kỷ phần thừa kế đượ ưởng cho ông CH quản lý, sử dụng nên xá định ông CH, bà Nh được chia: 32m2x2=64m2 (bao gồm cả 19m2 ngõ đi); còn ông H được chia: 32m2x3= 96m2.
Đối với việc bà Nh trìn bày đã đưa o bà Nh 01 chỉ vàng, do đã ó đủ ăn ứ xá định hoàn toàn không có sự thỏa thuận thống nh t nào trong gia đìn về việc phân chia thừa kế, không có sự thỏa thuận về việc ông H được quyền sử dụng thửa đ t ó ng ĩa vụ thanh toán 01 chỉ vàng cho bà Nh, nên không phải là hậu quả của Hợp đồng vô hiệu bắt buộc phải giải quyết trong cùng vụ án, nếu các đương sự có yêu cầu sẽ được xem xét giải quyết bằng vụ án khác.
Xét kháng cáo của ông CH và quan điểm của bà Nh xin nhận thừa kế bằng hiện vật th y rằng: Hiện không có người thừa kế nào chứng min đượ đang có nhu cầu bức thiết về chỗ ở, ông H trình bày vẫn có nhu cầu chỗ ở n ưng mâu thuẫn với việc ông H đã làm Hợp đồng tặng n à đ t cho chị H1. N ư vậy, để bảo đảm quyền được chia thừa kế bằng hiện vật trong điều kiện có thể ia được, vừa đảm bảo giá trị tài sản trên đ t cho ông H, đồng thời đáp ứng nguyện vọng của ông CH và bà Nh có một phần diện tí đ t ông a để làm nơi t ờ cúng là nguyện vọng ín đáng, phù hợp với phong tục tập quán người Việt, cần xem xét chia thừa kế bằng hiện vật cho những người thừa kế, ăn ứ theo sơ đồ hiện trạng các công trình ông H đã xây dựng, cần chia phần đ t phía Bắc cho ông CH và bà Nh sử dụng, do khi ông H làm n à trên đ t ông CH và bà Nh không phản đối, nên cần buộc ông CH và bà Nh ó ng ĩa vụ thanh toán phần giá trị còn lại của á ông trìn trên đ t cho ông H, bà Nh theo kết quả định giá, tổng cộng 7.376.400đồng để đảm bảo quyền lợi cho ông H, bà Nh.
Việc c p sơ t ẩm xá định ông H, bà Nh ùng đượ ưởng thừa kế di sản, ùng ó ng ĩa vụ thanh toán kỷ phần thừa kế cho những người thừa kế khác là k ông đúng, vì t eo p áp luật về thừa kế k ông ó quy định về quyền thừa kế của on dâu đối với di sản của bố mẹ chồng, nên Hội đồng xét xử sẽ điều chỉnh lại o đúng quy định của pháp luật.
Về án phí: Do sửa án sơ t ẩm nên án phí dân sự phúc thẩm người kháng cáo không phải nộp. Về án phí dân sự sơ t ẩm: Ông CH là người già, có công với cách mạng nên miễn án phí dân sự sơ t ẩm cho ông CH; đối với bà Nh và ông H, Hội đồng xét xử sẽ điều chỉnh lại án phí dân sự sơ t ẩm cho phù hợp với quyết định của bản án phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn ứ vào khoản 2 Điều 308 và Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự,
Ch p nhận một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh và một phần kháng cáo của ông Trần Duy C, sửa bản án sơ t ẩm.
Căn ứ á Điều 123, 131, 407, 609, 610, 611, 612, 613, khoản 1 Điều 623, á Điều 649, 650, 651, khoản 2 Điều 660 của BLDS; câu 2 mục II Công văn 64/TANDTC-PC ngày 03-4-2019 về t ông báo kết quả giải đáp trự tuyến một số vướng mắ về ìn sự, dân sự và tố tụng àn ín ; án lệ số 05/2016/AL về “Tranh ch p chia di sản thừa kế được lựa chọn từ Quyết địn Giám đốc thẩm số 39/2014/DS-GĐT ngày 09-10-2014 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao,
1. Xử ch p nhận yêu cầu khởi kiện chia thừa kế của ông Trần Duy C đối với di sản của cụ Luân và cụ Đột;
2. Xá định di sản của cụ Luân và cụ Đột là 160m2 đ t tại thửa số 984 tờ bản đồ 4PL3 bản đồ năm 1991, chỉn lý năm 2015, tọa lạc tại Thôn DD, xã TC, huyện TN, tỉn NĐ (trong đó bao gồm cả 19m2 đ t ngõ đi);
3. Tuyên bố Hợp đồng tặng cho tài sản giữa ông Trần Duy H và bà Vũ T ị Nh với chị Trần Thị H1 vào ngày 04-5-2021 vô hiệu;
4. Chia cho ông Trần Duy C và bà Trần Thị Nh được quyền sử dụng chung 19m2 đ t ngõ đi và 45m2 đ t tại thửa số 984 tờ bản đồ 4PL3 bản đồ năm 1991, chỉn lý năm 2015; ghi nhận sự tự nguyện của bà Trần Thị Nh giao kỷ phần thừa kế của bà Nh đượ ưởng cho ông Trần Duy C quản lý, sử dụng;
5. Chia cho ông Trần Duy H được quyền sử dụng diện tích 96m2 đ t tại thửa số 984 tờ bản đồ 4PL3 bản đồ năm 1991, chỉn lý năm 2015;
(Có sơ đồ kèm theo)
6. Xá định ông Trần Duy H và bà Vũ T ị Nh được quyền sở hữu chung các ông trìn đã xây dựng trên phần đ t ông Trần Duy H được chia;
7. Buộc ông Trần Duy C và bà Trần Thị Nh ó ng ĩa vụ thanh toán cho ông Trần Duy H và bà Vũ T ị Nh giá trị còn lại của các công trình đã xây dựng trên phần đ t ông CH, bà Nh được chia, tổng cộng 7.376.400đồng (Bảy triệu ba trăm bảy mươi sáu ngàn bốn trăm đồng);
Kể từ ngày người được thi hành án ó đơn yêu ầu t i àn án đối với các khoản tiền người phải thi hành án phải trả cho người được thi hành án o đến khi thi hành án xong, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi su t quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS;
Ông Trần Duy H và bà Vũ T ị Nh ó ng ĩa vụ phá dỡ á ông trìn đã xây dựng trên phần đ t chia cho ông Trần Duy C và bà Trần Thị Nh, giải phóng mặt bằng để bàn giao cho ông Trần Duy C và bà Trần Thị Nh phần đ t phía Bắc của thửa đ t có diện tích 45m2;
8. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Trần Thị E n ường kỷ phần thừa kế được ưởng cho ông Trần Duy H;
Ông Trần Duy C và ông Trần Duy H có quyền liên hệ với ơ quan n à nước có thẩm quyền để chỉnh sửa lại hồ sơ địa chính và xin c p GCNQSDĐ theo quyết định của bản án;
Kiến nghị UBND huyện Trực Ninh thu hồi GCNQSDĐ số CY 823937 đã c p cho chị Trần Thị H1 ngày 12-5-2021 và c p lại GCNQSDĐ o á đương sự theo quyết định của bản án;
9. Các quyết định khác của bản án sơ t ẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã ó iệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
10. Căn ứ điểm a khoản 7 Điều 27, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban T ường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án,
Ông Trần Duy C không phải nộp án phí phúc thẩm;
Án phí dân sự sơ t ẩm: Bà Nh phải nộp 1.280.000đồng (Một triệu ai trăm tám mươi ngàn đồng). Ông H phải nộp 2.560.000đồng (Hai triệu năm trăm sáu mươi ngàn đồng); tuyên trả lại cho ông Trần Duy C số tiền 2.000.000đồng dự thu án phí do ông CH đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002431 ngày 13-7-2021 và số tiền dự thu án phí phúc thẩm ông CH đã nộp 300.000đồng tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002050 ngày 02-8-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trực Ninh. Tổng cộng ông CH được nhận lại 2.300.000đồng (Hai triệu ba trăm ngàn đồng).
Trường hợp bản án, quyết địn đượ t i àn t eo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự t ì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị ưỡng chế t i àn án t eo quy định tại á Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu t i àn án được thực hiện t eo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Cá đương sự; - TAND+VKSND C p cao tại HN; - VKSND tỉn Nam Định; - TAND huyện Trực Ninh; - Chi cục THA huyện Trực Ninh; - Lưu: VT, ồ sơ vụ án. Theo án lệ số 05/2016/AL về “ Tran chọn từ Quyết địn Giám đốc thẩm số 39 /2014/DS-GĐT ngày 09 10 2014 ủa Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối ao và được công bố theo quyết định số 220 QĐ- CA ngày 06/4/2016 của Chánh án TANDTC thì khi quyết định việc chia thừa kế cho các thừa kế thì phải xem xét về công sứ đóng góp ủa ông H, bà Nh. thửa đ t số 984 tờ bản đồ số 4PL3 diện tích 141 m2 đ t ở. Cụ Luân, cụ Đột có 04 người con là Trần Duy C, Trần Thị Nh, Trần Thị E, Trần Duy H là á đồng thừa kế. Khi cụ Đột, cụ Luân m t k ông để lại di chúc nên chia di sản thừa kế theo pháp luật: bà E không nhận kỷ phần của mìn và để lại cho ông H nên ông H sẽ được 70,5m2, bà Nh và ông CH mỗi người được 35,25m2 đ t tại thửa số 984, tờ bản đồ số 4PL3 tại Thôn DD, xã TC, huyện TN, tỉn NĐ. Tuy nhiên hiện tại trên mảnh đ t vẫn còn ngôi nhà 4 gian c p 4 và các công trình phụ gia đìn ông H đang sử dụng, nhà và các công trình phụ đã xây dựng hết diện tí đ t, nên ông H có trách nhiệm thanh toán kỷ phần 1/4 giá trị thổ đ t cho ông CH = ¼ giá trị thổ đ t cho bà Nh= 1 4x 112.800.000= 28.200.000 đồng. 02 2016 GĐ-TANDTC ngày 19/9/2016 về giải đáp một số v n đề về tố tụng hành chính, tố tụng dân sự; tiểu mục 2 phần II Công văn 64 TANDTC-PC ngày 03/4/2019 về việc thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc về hình sự, dân sự và tố tụng hành chính; tiểu mục 7 phần IV Công văn số 02/TANDTC-PC ngày 02 t áng 8 năm 2021 ủa TANDTC về việc giải đáp một số vướng mắc trong xét xử thì thẩm quyền giải quyết vụ án này theo thủ tụ sơ thẩm về việc hủy gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t của ông Trần Duy H là của Tòa án nhân dân tỉn Nam Định. Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh cần ăn ứ quy định tại Điều 41 BLTTDS chuyển vụ án này đến TAND tỉn Nam Địn để giải quyết theo thẩm quyền mới đúng quy định pháp luật. hội ngày 30 t áng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đề nghị Tòa án tuyên án p í t eo quy định. Toµ ¸n nh©n d©n TØnh Nam §Þnh Biªn b¶n nghÞ ¸n Vào hồi 10 giờ 50 phút ngày 2022 Tại phòng nghị án trụ sở Toà án nhân dân dân tỉn Nam Định Với Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bạch Tuyết Các Thẩm phán: Tiến hành nghị án vụ án dân sự thụ lý số: về “Tran á đương sự: Nguyên đơn: Bị đơn: HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU: Quan điểm bà Vì vậy, cần: Căn ứ vào Tuyên ng ĩa vụ thi hành án và biện pháp bảo đảm thi hành án Quan điểm bà Thu và bà Tuyết: Nh t trí quan điểm bà Hồng Hội đồng xét xử biểu quyết 3/3 ý kiến nh t trí với nội dung trên. Việc nghị án kết thúc vào hồi giờ 00 phút cùng ngày ng e và ký tên dưới đây. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ toµ Vũ Thị Thu [1] P ần I ủa Công văn số 02 GĐ-TANDTC ngày 19-9-2016 ủa Tòa án n ân dân tối ao về Giải đáp ng iệp vụ đã ướng dẫn: “Gi y ứng n ận quyền sử dụng đ t là quyết địn àn ín …” á biệt. N ư vậy, t eo quy địn tại Điều 34 ủa Bộ luật Tố tụng dân sự k i giải quyết tran trong đó ó việ ơ quan n à nướ p gi y ứng n ận quyền sử dụng đối với t ửa đ t đang tran t ì Tòa án p ải đưa ơ quan p gi y ứng n ận quyền sử dụng đ t t am gia tố tụng với tư á là người ó quyền lợi, ng ĩa vụ liên quan và xem xét ủy gi y ứng n ận quyền sử dụng đ t đó. Tuy n iên, tại điểm d k oản 2 ủa Điều 106 ủa Luật Đ t đai quy địn ơ quan quyền sử dụng đ t trong trường ợp “…người đượ p Gi y ứng n ận đó đã t ự iện uyển quyền sử dụng đ t, quyền sở ữu tài sản gắn liền với đ t t eo quy địn ủa p áp luật đ t đai…”. T eo Điều 195 ủa Luật Đ t đai t ì trìn tự, t ủ tụ p gi y ứng n ận oặ xá n ận nội dung biến động do uyển quyền sử dụng đ t do C ín p ủ quy địn . Điều 79 ủa Ng ị địn số 43 2014 NĐ-CP ngày 15-5-2014 ủa C ín p ủ quy địn việ đăng ký biến động, p lại gi y Văn p òng đăng ký đ t đai ó trá n iệm kiểm tra ồ sơ, nếu đủ điều kiện t ự n ận đã p oặ lập ồ sơ trìn ơ quan ó t ẩm quyền p Gi y ứng n ận quyền sử dụng đ t. N ư vậy, t eo quy địn ủa Luật Đ t đai và Ng ị địn số 43 2014 NĐ-CP ngày 15-5-2014 ủa C ín p ủ t ì việ p lại Gi y ứng n ận quyền sử dụng đ t trường ợp quy địn tại k oản 3 Điều 105 ủa Luật Đ t đai) là t ủ tụ àn ín trong giao dị dân sự, k ông mang tín k i giải quyết tran bị vô iệu, n ưng người n ận uyển quyền đã đượ p gi y ứng n ận quyền sử dụng đ t oặ đã đượ xá n ận nội dung biến động t ì k ông đưa ơ quan ó t ẩm quyền trong việ p gi y t am gia tố tụng và k ông ần p ải tuyên ủy gi y ứng n ận p o người n ận uyển n ượng. K i Tòa án tuyên ợp đồng nguyên và Môi trường ăn ứ vào bản án, quyết địn ủa Tòa án để giải quyết điều ỉn biến động oặ p lại gi y ứng n ận quyền sử dụng đ t p ù ợp với kết quả giải quyết ủa Tòa án. 2. Trường ợp, trên ơ sở ợp đồng uyển n ượng, uyển đổi, tặng cho quyền sử dụng đ t, ơ quan nhà nướ có t ẩm quyền đã p gi y ứng n ận quyền sử dụng đối với t ửa đ t đó cho người n ận uyển n ượng, n ận uyển đổi, n ận tặng cho quyền sử dụng đ t. Sau đó, các bên tranh p và Tòa án xét t y ợp đồng nói trên bị vô iệu oặ Tòa án có p ải áp dụng Điều 34 ủa Bộ luật Tố tụng dân sự đưa n ững ơ quan đã p gi y ứng n ận quyền sử dụng đ t đó tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, ng ĩa vụ liên quan để xem xét ủy gi y ứng n ận quyền sử dụng đ t đã p cho người n ận uyển n ượng, n ận uyển đổi, n ận tặng cho quyền sử dụng đ t không? N iệm vụ ủa Bộ luật Tố tụng dân sự là giải quyết vụ việ dân sự đượ n an óng, ín xá , ông min và đúng p áp luật, bảo vệ lợi í ủa N à nướ , quyền và lợi í ợp p áp ủa ơ quan, tổ ứ , á n ân… Trên ơ sở đó, Điều 34 ủa Bộ luật Tố tụng dân sự quy địn k i giải quyết á vụ việ dân sự, mà trong vụ việ đó ó quyết địn á biệt ủa ơ quan, tổ ứ , người ó t ẩm quyền trái p áp luật, xâm p ạm quyền, lợi í ợp p áp ủa đương sự và nội dung ủa quyết địn đó liên quan đến vụ việ Tòa án giải quyết t ì Tòa án p ải ủy quyết địn đó để k ôi p ụ quyền, lợi í ợp p áp ủa đương sự. “Quy địn này tạo ơ sở cho Tòa án ủ động trong việ ủy quyết địn cá biệt trái pháp luật có ản ưởng tới quyền lợi ợp pháp ủa đương sự, n ằm giải quyết vụ việ dân sự một cách chính xác, toàn diện ”. (Mụ 3 Bộ luật Tố tụng dân sự ngày 10-4-2015 ủa Tòa án n ân dân tối ao). Tại mụ 1 P ần I ủa Công văn số 02 GĐ-TANDTC ngày 19-9-2016 ủa Tòa án nhân dân tối ao về Giải đáp ng iệp vụ đã ướng dẫn: “Gi y ứng n ận quyền sử dụng đ t là quyết địn hành ín …” á biệt. N ư vậy, t eo quy địn tại Điều 34 ủa Bộ luật Tố tụng dân sự k i giải quyết tran trong đó ó việ ơ quan n à nướ p gi y ứng n ận quyền sử dụng đối với t ửa đ t đang tran t ì Tòa án p ải đưa ơ quan p gi y ứng n ận quyền sử dụng đ t t am gia tố tụng với tư á là người ó quyền lợi, ng ĩa vụ liên quan và xem xét ủy gi y ứng n ận quyền sử dụng đ t đó. Tuy nhiên, | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Bạch Tuyết p chia di sản thừa kế được lựa - Xá định di sản thừa kế của cụ Trần Duy Đột và cụ Lương T ị Luân là Ông CH = ông H= bà Nh= bà E= 1/4 diên tích tài sản chung= 35,25 m2. Do - Căn ứ điều 34 BLTTDS; ướng dẫn tại phần II của giải đáp số Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban t ường vụ Quốc cEg hoµ x· héi chñ nghÜa viÖt nam §éc lËp - Tù do - H¹nh phóc Bà Vũ T ị Mai Hương Bà Mai Thị Minh Hồng p đòi tài sản” giữa Biên bản nghị án đã đọc lại cho t t cả thành viên Hội đồng xét xử cùng THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ phiªn Nguyễn Thị Bạch Tuyết p về quyền sử dụng đ t mà p k ông đúng, gây t iệt ại đến quyền lợi ủa đương sự p gi y ứng n ận quyền sử dụng đ t k ông đượ t u ồi gi y ứng n ận ứng n ận quyền sử dụng đ t do uyển quyền dựa trên ơ sở ồ sơ ợp đồng, iện á quyền t eo quy địn t ì xá n ận nội dung biến động vào Gi y ứng oặ xá n ận nội dung biến động trong trường ợp t ự iện ợp đồng ( á t ủa quyết địn àn ín á biệt; ơ quan, tổ ứ ó t ẩm quyền sẽ t ự iện việ đăng ký biến động, p lại gi y ứng n ận quyền sử dụng đ t trên ơ sở kết quả giao dị ó iệu lự . C o nên, p về ợp đồng uyển quyền sử dụng đ t mà ợp đồng đó uyển quyền sử dụng đ t vô iệu t ì Văn p òng đăng ký đ t đai, ơ quan Tài p n ận yêu ầu ủy bỏ, n ư vậy khi giải quyết p về quyền sử dụng đ t mà p k ông đúng, gây t iệt ại đến quyền lợi ủa đương sự |