- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thanh T - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn T (T) phạm tội "Cố ý gây thương tích";
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự Tịch thu tiêu hủy; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 81/2021/HS-ST Ngày: 15/9/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Dương
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Thanh Hùng;
2. Ông Lê Văn Vẹn.
Thư ký phiên toà: Ông Ngô Quang Khải, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Quách Thịnh, Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 54/2021/TLST-HS ngày 20 tháng 8 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2021/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 8 năm 2021 đối với bị cáo:
Lê Văn T (T), sinh ngày 09/03/1999; Nơi sinh: T - An Giang; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú (chỗ ở hiện nay): Ấp B, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 05/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Lê Giang A, sinh năm 1976 và bà Nguyễn Thị Thúy H, sinh năm 1981; Chưa có vợ con.
Tiền án; Tiền sự: không.
Bị cáo, bị tạm giam từ ngày 14/6/2021 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Ông Huỳnh Ngọc K, sinh năm 1979; Địa chỉ: ấp 2, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt và có yêu cầu xét xử vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Lê Thanh T, sinh năm 1974; Địa chỉ: Ấp B, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang, vắng mặt.
Người làm chứng: Ông Lê Giang A và ông Nguyễn Văn B, vắng mặt và có yêu cầu xét xử vắng mặt;
- Ông Nguyễn Văn C, vắng mặt;
- Ông Trần Văn D, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt:
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 20/4/2021, sau khi dự đám cưới xong, ông Huỳnh Ngọc K đi đến nhà của ông Lê Thanh T thuộc ấp B, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang để tiếp tục uống bia cùng với ông Thanh T, ông Lê Giang A, ông Nguyễn Văn B, ông Nguyễn Văn C và ông Trần Văn D. Lúc này, bị cáo Lê Văn T (con của ông Giang A), cũng có mặt tại nhà của ông Thanh T, nhưng không tham gia uống bia, chỉ ngồi chơi phía trước sân nhà của ông Thanh T. Trong lúc mọi người đang uống bia, bị cáo T đi lại vòi nước để rửa tay, rồi nghe K hỏi “sao? sao?”, cho rằng ông K đang thách thức, nên bị cáo T lấy 01 cây dao (loại dao yếm) bằng kim loại, màu đen, dài 35,5cm, để gần đó, cầm trên tay phải, đi đến đứng sau lưng của ông K, khoảng cách nữa cánh tay. Ông K đang ngồi dưới nền gạch, mặt nhìn vào nhà, khi ông K vừa quay mặt ra phía sau, bị cáo T cầm dao chém từ trên xuống, từ phải qua trái, liên tiếp 02 cái nên trúng vào vùng đầu của ông K, làm đầu ông K bị thương chảy máu. Sau đó, bị cáo T được mọi người xung quanh can ngăn, giật cây dao ném bỏ, xong, bị cáo T bỏ đi về nhà. Riêng, ông K được mọi người đưa đến Bệnh viện đa khoa khu vực T, để điều trị vết thương.
Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm: 01 cây dao bằng kim loại màu đen, dài 35,5cm, bề rộng 4,5cm, lưỡi dao sắc bén (đã qua sử dụng).
Kết luận giám định pháp y về thương tích số 217/21/TgT ngày 14/5/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh An Giang: Huỳnh Ngọc K, sinh năm 1979. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể, do tất cả các thương tích gây nên hiện tại là: 13%. Thương tích do vật sắc gây nên. Cụ thể:
Sẹo đỉnh trái, kích thước 7.5 x 0.2cm, lõm, sắc, gọn, thẳng. Nứt sọ đỉnh trái: 12%;
Sẹo chấm phải, kích thước 3.5 x 0.1cm, thẳng, sắc, gọn: 01%.
Ngày 10/6/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã Tân Châu, khởi tố Lê Văn T, về tội “Cố ý gây thương tích”.
Bị hại Huỳnh Ngọc K; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Lê Thanh T; các người làm chứng, Lê Giang A, Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn C và Trần Văn D, trình bày phù hợp với nội dung vụ án đã nêu. Ông K yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo T, nhưng không yêu cầu bị cáo T phải bồi thường chi phí điều trị vết thương.
Trước Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã Tân Châu, bị cáo Lê Văn T, khai nhận như nội dung vụ án đã nêu.
Tại bản Cáo trạng số 54/CT-VKSTC ngày 19 tháng 8 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu đã truy tố bị cáo Lê Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo T khai nhận hành vi gây thương tích cho ông K như đã trình bày giai đoạn điều tra, truy tố. Bị cáo ăn năn hối hận về hành vi của mình, bị cáo xin lỗi bị hại và gia đình.
Người làm chứng, ông Trần Văn D giữ nguyên ý kiến trình bày giai đoạn điều tra.
Phát biểu quan điểm luận tội, Kiểm sát viên giữ quan điểm truy tố bị cáo Lê Văn T (T) về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn T (T), từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu, tiêu hủy: 01 cây dao bằng kim loại màu đen, dài 35,5cm, bề rộng 4,5cm, lưỡi dao sắc bén (đã qua sử dụng).
Về trách nhiệm dân sự, bị hại Huỳnh Ngọc K không yêu cầu bồi thường nên không đề cập đến.
Trong phần tranh luận, bị cáo không tranh luận với Đại diện Viện kiểm sát, đồng ý theo Quyết định truy tố và quan điểm luận tội của Viện kiểm sát, không có ý kiến khác.
Bị cáo nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
- Về tố tụng:
Thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị cáo Lê Văn T (T) bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã Tân Châu khởi tố về hành vi “Cố ý gây thương tích” xảy ra tại khu vực ấp B, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra; Điều tra viên; Viện kiểm sát; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện.
Tư cách tố tụng: Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2021/QĐXXST-HS của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu xác định ông Lê Thanh T tham gia tố tụng với tư cách là người làm chứng. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thị xã Tân Châu đã thu giữ 01 cây dao bằng kim loại màu đen, dài 35,5cm, bề rộng 4,5cm, lưỡi dao sắc bén (đã qua sử dụng) của ông T nên Hội đồng xét xử xác định ông Lê Thanh T gia tố tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án theo quy định Điều 65 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Bị hại anh Huỳnh Ngọc K; các người làm chứng Lê Giang A, Nguyễn Văn B vắng mặt và có yêu cầu xét xử vắng mặt; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Lê Thanh T; Người làm chứng Nguyễn Văn C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Tuy nhiên, những người này đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự quyết định vẫn tiến hành xét xử.
- Về nội dung:
Hành vi phạm tội:
Bị cáo Lê Văn T (T) khai nhận, vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 20/4/2021, ông Huỳnh Ngọc K cùng với các ông Thanh T, Lê Giang A, Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn C và Trần Văn D đang uống bia tại nhà của ông Lê Thanh T thuộc ấp B, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang. Lúc này, bị cáo T (con của ông Giang A), có mặt tại nhà của ông Thanh T, nhưng không tham gia uống bia, chỉ ngồi chơi phía trước sân nhà của ông Thanh T. Trong lúc mọi người đang uống bia, bị cáo T đi lại vòi nước để rửa tay, rồi nghe ông K hỏi “sao? sao?”, cho rằng ông K đang thách thức, nên bị cáo T lấy 01 cây dao (loại dao yếm) bằng kim loại, màu đen, dài 35,5cm, để gần đó, cầm trên tay phải, đi đến đứng sau lưng của ông K, khoảng cách nữa cánh tay. Ông K đang ngồi dưới nền gạch, mặt nhìn vào nhà, khi ông K vừa quay mặt ra phía sau, bị cáo T cầm dao chém từ trên xuống, từ phải qua trái, liên tiếp 02 cái nên trúng vào vùng đầu của ông K, làm đầu ông K bị thương chảy máu. Sau đó, bị cáo T được mọi người xung quanh can ngăn, giật cây dao ném bỏ, xong, bị cáo T bỏ đi về nhà. Riêng, ông K được mọi người đưa đến Bệnh viện đa khoa khu vực T, để điều trị vết thương.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại K; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án Lê Thanh T; người làm chứng Lê Giang A, Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn C, Trần Văn D.
Theo biên bản xem xét dấu vết trên thân thể ngày 27/4/2021 đối với bị hại K: Vết thương ở vùng đầu bên trái kích thước 08cm x 0.2cm đã khâu; vết thương vùng sau gáy kích thước 04cm x 0.1cm đã khâu. Bị hại K khai những vết thương trên người của ông K là do bị cáo T dùng dao chém ngày 20/4/2021 tại nhà của ông Lê Thanh T.
Căn cứ vào biên bản xem xét dấu vết trên thân thể; Giấy chứng nhận thương tích số 200/CNTT-BVKVTC ngày 04/5/2021 của Bệnh viện đa khoa Tân Châu; Kết luận giám định pháp y về thương tích nêu trên; Lời khai bị cáo, lời khai bị hại, lời khai người liên quan, người làm chứng; biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm ngày 20/4/2021 do Công xã Vĩnh Hòa lập và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Đủ cơ sở xác định, bị cáo T có hành vi dùng dao (loại dao yếm), là hung khí nguy hiểm đánh gây thương tích cho ông Huỳnh Ngọc K với tỷ lệ tổn thương cơ thể hiện tại là 13%. Hành vi của bị cáo thể hiện tính xem thường pháp luật, xem thường tính mạng của người khác; Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện với lỗi cố ý; Xâm hại đến sức khỏe của ông K đã đủ yếu tố cấu thành tội "Cố ý gây thương tích" theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự như quan điểm truy tố của Viện kiểm sát.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến sửc khoẻ tính mạng của người khác mà còn gây hoang mang trong nhân dân, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.
Con người là vốn quý của xã hội, tính mạng sức khoẻ của con người được hiến pháp năm 2014 ghi nhận và được luật hình bảo vệ. Bất kỳ ai xâm hại đến dù ở cương vị nào cũng bị pháp luật trừng trị và phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình.
Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị thuộc thành phần lao động nghèo, có trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, như quan điểm Kiểm sát viên.
Hình phạt: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, phải có mức hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo với bên ngoài xã hội trong thời gian nhất định để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về xử lý vật chứng: 01 cây dao bằng kim loại màu đen, dài 35,5cm, bề rộng 4,5cm, lưỡi dao sắc bén (đã qua sử dụng) của ông Lê Thanh T trong quá trình điều tra ông T không có yêu cầu nhận lại; con dao là hung khí bị cáo T dùng gây thương tích cho bị hại K, không còn giá trị sử dụng. Xét, tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07 tháng 9 năm 2021 giữa Cơ quan Điều tra - Công an thị xã Tân Châu với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu).
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại K không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Bị cáo Lê Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
(Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Tuyên bố bị cáo Lê Văn T (T) phạm tội "Cố ý gây thương tích";
Xử phạt: Bị cáo Lê Văn T (T) 03 (ba) năm tù;
Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo được tính kể từ ngày tạm giữ, tạm giam 14/06/2021 (ngày bốn, tháng sáu, năm hai nghìn không trăm hai mươi một).
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự
Tịch thu tiêu hủy: 01 cây dao bằng kim loại màu đen, dài 35,5cm, bề rộng 4,5cm, lưỡi dao sắc bén (đã qua sử dụng).
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07 tháng 9 năm 2021 giữa Cơ quan Điều tra - Công an thị xã Tân Châu với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu).
Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, 333, 337 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lê Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Riêng thời hạn kháng cáo của bị hại K, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Thanh T vắng mặt là 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Viện KSND thị xã (1); - Viện KSND tỉnh (1); - Tòa án nhân dân tỉnh (1); - Sở Tư pháp (1); - Nhà Tạm giam (1); - Phòng hồ sơ (1); - Thi hành án DS thị xã (1); - Bộ phận THA Tòa án (1); - UBND cấp xã nơi BC cư trú (1); - Bị cáo; - Bị hại;ư - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án; - Lưu hồ sơ; - Lưu văn phòng (1). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Nguyễn Thị Thùy Dương |