vanban.org

Bản án 81/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 29/06/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Sa P phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 250; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Xử phạt: Bị cáo Sa P 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 21/01/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vận chuyển trái phép chất ma túy - phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy (điều 250 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Sa P phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUÂN LỘC
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 81/2021/HS-ST
Ngày: 29 - 6 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh Phượng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hồ Văn Tài

2. Ông Phạm Đức Anh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Huệ - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện X, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 57/2021/TLST-HS ngày 18 tháng 5 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2021/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2021 đối với bị cáo:

Sa P (tên gọi khác: H), sinh năm: 1998, tại Đồng Nai; Nơi cư trú: ấp 4, xã H, huyện X, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 02/12; Dân tộc: Chăm; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Hồi giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Chàm Sa L, sinh năm 1971 và bà: Ap Sa M, sinh năm 1974; Vợ, con: chưa có; Tiền án: không; tiền sự: không;

Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 21/01/2021, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Phạm Thị Lệ H, sinh năm: 1986. Nơi cư trú: 217A/1, Khu phố 2, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 01 giờ 00 phút ngày 21/01/2021, Công an xã T đang tuần tra kiểm soát trên đoạn đường Quốc lộ 1A thì phát hiện Sa P đang đứng tại khu vực phía trước cửa hàng “Bách hóa xanh” thuộc ấp 5, xã T, huyện X, tỉnh Đồng Nai có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Sa P bỏ chạy nhằm trốn thoát, trong quá trình chạy trốn đã vứt bỏ 01 bóp da xuống đường nhưng đã bị lực lượng Công an bắt giữ. Qua kiểm tra, phát hiện trong bóp da Sa P vứt bỏ có 01 (một) gói nylon màu trắng, không hàn kín, bên trong có 19 (mười chín) viên nén màu trắng, hình tròn, có in chữ “U” cùng nhiều mãnh vỡ, vụn nén màu trắng, nghi là ma túy, đã niêm phong ký hiệu (M2), Sa P khai là thuốc trong y tế và 05 (năm) gói nylon màu trắng, hàn kín, bên trong có 03 gói kích thước 0,5x3cm, 01 gói kích thước 1x3cm, 01 gói có kích thước 3x3cm, đều chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy, đã niêm phong, ký hiệu (M1), Sa P khai là ma túy tổng hợp do một người thanh niên tên Đ không rõ nhân thân, lai lịch thuê vận chuyển đến khu vực ấp 5, xã T, huyện X để đưa cho một người khác không rõ nhân thân, lai lịch. Nhận được tin báo, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - ma túy đến lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Sa P về hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy và niêm phong tang vật theo quy định.

Quá trình điều tra ban đầu xác định: Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 21/01/2021 trên đường đi về nhà, Sa P gặp một người thanh niên tên Đ (không rõ nhân thân, lai lịch) tại cây xăng Gia Nguyễn Minh ở ấp 3, xã H, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Anh Đ là người đã bán ma túy trước đó cho Sa P và Sa P đang nợ Đ số tiền mua ma túy chưa trả là 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng). Đ thuê Sa P điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 60B1-83.888, cầm theo áo khoác màu trắng đen, bên trong áo khoác có 01 bóp da, nói Sa P không được mở bóp ra xem bên trong có gì, đi đến trước cửa hàng Bách Hóa Xanh ở ấp 5, xã T rồi sẽ có người gặp lấy xe, lấy áo khoác, bóp da, sau đó lấy xe khác chạy quay về đưa về cho Đ tại khu vực cây xăng Gia Nguyễn Minh. Đ nhờ Sa P nói người nhận: “chuyển tiền đầy đủ vào tài khoản cho Đ”. Đ hứa xong việc, sẽ cho ma túy để Sa P ma túy để sử dụng và trả tiền công số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) mà Sa P đang nợ của anh Đ, xóa nợ cho Sa P. Sa P nhận thức được trong bóp da Đ đưa có ma túy nhưng không biết số lượng bao nhiêu, không biết người mua ma túy của Đ là ai. Do Sa P đang cần tiền trả nợ cho Đ và cần ma túy để sử dụng nên Sa P đồng ý vận chuyển ma túy thuê cho Đ. Sa P điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 60B1-83.888 đi đến trước cửa hàng “Bách hóa xanh” thuộc ấp 5, xã T huyện X, tỉnh Đồng Nai thì dừng xe, đợi người đến nhận thì bị lực lượng Công an xã T đến yêu cầu kiểm tra. Do sợ Công an phát hiện mình có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên Sa P đã bỏ chạy, vứt bỏ 01 bóp da xuống đường. Sa P chạy khoảng 100m thì bị bắt quả tang cùng tang vật như đã nêu trên.

* Tại kết luận giám định số 173/KLGĐ-PC09 ngày 26/01/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận:

- Mẫu tinh thể màu trắng (kí hiệu M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 2,12689 gam, loại: Methampetamine.

- Mẫu 19 (mười chín) viên nén hình tròn màu trắng có logo chữ U và nhiều mảnh vỡ vụn màu trắng (kí hiệu M2) được niêm phong gửi đến giám định, có khối lượng 3,13929 gam, loại: Terpin.

Terpin không thuộc Danh mục chất ma túy và tiền chất ban hành kèm theo Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 và Nghị định số 60/2020/NĐ-CP ngày 29/5/2020 của Thủ tướng Chính phủ.

Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng M1=2,08823 gam, M2=2,35347 gam.

* Tại kết luận giám định số 975/KLGĐ-PC09 ngày 14/5/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận:

- Xe mô tô biển số 60P1-838.88 là đối tượng gửi giám định nêu ở mục II. Trước giám định số khung: RLCE55P10DY30229. Sau giám định kết luận số khung: RLCE55P10DY30229 (số khung không bị đục, phá).

- Xe mô tô biển số: 60P1-838.88 là đối tượng gửi giám định nêu ở mục II. Trước giám định số máy: 55P1-30224. Sau giám định kết luận số máy: 55P1-30224 (số máy không bị đục, phá).

* Vật chứng vụ án thu giữ:

- 05 (năm) gói nylon màu trắng, hàn kín, bên trong có 03 gói kích thước 0,5x3cm, 01 gói kích thước 1x3cm, 01 gói có kích thước 3x3cm, đều chứa tinh thể màu trắng, đã niêm phong ký hiệu (M1).

- 01 (một) gói nylon màu trắng, không hàn kín, bên trong có 19 (mười chín) viên nén màu trắng, hình tròn, có in chữ “U” cùng nhiều mãnh vỡ, vụn nén màu trắng, đã niêm phong ký hiệu (M2).

- 01 (một) bóp da.

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu EXCITER, biển số 60B1-838.88 thu giữ của Sa P. Tuy nhiên, qua điều tra xác định xe mô tô biển số 60B1-838.88 có nhãn hiệu HONDA CLICK, màu đỏ do chị Phạm Thị Lệ H, sinh năm 1986, trú 217A/1 khu phố 2, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai là chủ sở hữu, hiện đang sử dụng xe mô tô và trong quá trình sử dụng không bị mất biển số xe. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện X đã tiến hành trưng cầu giám định số máy, số khung và xác minh nguồn gốc xe nhưng đến nay chưa xác định được nguồn gốc xe mô tô nhãn hiệu EXCITER, biển số 60B1-838.88 thu giữ của Sa P nên tách ra tiếp tục điều tra xác minh nguồn gốc xe và đề nghị xử lý sau.

Tại bản cáo trạng số 68/CT-VKSXL ngày 18 tháng 5 năm 2021 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện X đã truy tố bị cáo Sa P về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện X giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo cáo trạng và đề nghị xử phạt bị cáo Sa P từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

Bị cáo Sa P nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của như quyết định truy tố của VKSND huyện X và đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện X, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện X, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo Sa P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng của vụ án đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án, thể hiện:

Vào khoảng 00 giờ 30 phút ngày 21/01/2021 tại khu vực phía trước cửa hàng Bách hóa xanh thuộc ấp 5, xã T, huyện X, tỉnh Đồng Nai, Công an bắt quả tang Sa P có hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ gồm: 05 (năm) gói nylon màu trắng, hàn kín, bên trong có 03 gói kích thước 0,5x3cm, 01 gói kích thước 1x3cm, 01 gói có kích thước 3x3cm, đều chứa tinh thể màu trắng. Kết quả giám định tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng là 2,12689 gam, loại Methamphetamine.

Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận bị cáo Sa P đã phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 250 Bộ luật hình sự năm 2015.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo là dân tộc ít người, trình độ học vấn thấp nên trình độ nhận thức có phần hạn chế (quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự).

Hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy, xâm phạm an ninh, trật tự trong xã hội. Tình hình mua bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy đang diễn ra rất phức tạp, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an, an toàn xã hội, gây ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe, nhân cách con người, gây thiệt hại về kinh tế của gia đình cũng như xã hội. Vì vậy cần phải có mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi của bị cáo gây ra, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo có ý thức chấp hành pháp luật và răn đe phòng ngừa chung.

Về xử lý vật chứng vụ án: 01 phong bì được niêm phong số 173/KLGĐ-PC09 ngày 27/01/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai và 01 bóp da không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với thanh niên tên Đ mà Sa P khai đã thuê Sa P vận chuyển trái phép chất ma túy cho Đ, do chưa xác định được nhân thân lai lịch nên tách ra tiếp tục điều tra, xử lý sau là phù hợp.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu EXCITER, biển số 60B1-838.88 thu giữ của Sa P. Qua điều tra xác định xe mô tô biển số 60B1-838.88 có nhãn hiệu HONDA CLICK, màu đỏ do chị Phạm Thị Lê H, sinh năm 1986, trú 217A/1 khu phố 2, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai là chủ sở hữu, hiện đang sử dụng xe mô tô và trong quá trình sử dụng không bị mất biển số xe. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện X đã tiến hành trưng cầu giám định số máy, số khung và xác minh nguồn gốc xe nhưng đến nay chưa xác định được nguồn gốc xe mô tô nên tách ra tiếp tục điều tra xác minh nguồn gốc xe để xử lý sau nên Tòa không xem xét.

Đối với ý kiến và đề nghị của Kiểm sát viên có phần phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận phần phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Sa P phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

1. Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 250; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Sa P 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 21/01/2021.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì được niêm phong số 173/KLGĐ-PC09 ngày 27/01/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai; 01 bóp da (theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 21 tháng 5 năm 2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện X).

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Sa P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ