- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lâm L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 81/2021/HS-ST Ngày: 02-11-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Hồ Thị Oanh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành Vui
Bà Trần Xuân Đạm
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Thị Kỷ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Thủy Tiên - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 74/2021/HSST ngày 04/11/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2021/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:
Lâm L, sinh năm 1996; tại Bình Phước; Giới tính: Nam; HKTT và chỗ ở: Ấp N, xã P, huyện Lộc Ninh, Bình Phước; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Khmer; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm vườn; Trình độ học vấn: 1/12; Cha: Lâm L1 (Đã chết); Mẹ: Thị N, sinh năm: 1950; Bị cáo có 08 anh chị em, lớn nhất sinh năm: 1977, nhỏ nhất là bị cáo; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Lộc Ninh từ ngày 27/8/2021 đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đàm Văn Đức – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bình Phước (có mặt)
* Bị hại: 1/ Chị Hồ Thị Thu H, sinh năm 1994 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp L, xã P, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước
2/ Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1994 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp X, xã Q, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- 1 -
1/ Anh Nguyễn Đình Th, sinh năm 1991 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp 2, xã H, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước
2/ Anh Hồ Hữu H1, sinh năm 1984 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp 10, xã T, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước
* Người phiên dịch: Ông Lâm Thy- Bí thư Chi đoàn ấp Vẻ Vang, xã Lộc Phú
Địa chỉ: ấp Vẻ Vang, xã Lộc Phú, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Vào khoảng 19 giờ, ngày 24/7/2021, Lâm L đang ở nhà thì nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài. Lâm L đi bộ từ nhà thuộc ấp Bù Nồm, xã Lộc Phú đến ấp Soor Rung, xã Lộc Phú thì thấy nhà của bà Nguyễn Thị Mỹ Hồng, sinh năm 1953 không ai trông coi, cửa mở nên Lôi vào nhà. Lôi thấy có 01 ĐTDĐ Iphone XSMax màu vàng đồng, ốp lưng màu trắng viền tím của chị Hồ Thị Thu H (cháu ngoại bà Hồng) đang sạc pin trên thùng giấy nên đã lén lút lấy trộm 01 ĐTDĐ Iphone XSMax trên, 01 cục sạc và dây sạc bỏ vào túi quần rồi đi bộ về nhà. Khoảng 3 ngày sau, Lôi mượn xe mô tô biển số 93E1 - 073.18 của Lâm Ly, sinh năm: 2002, HKTT: Ấp Bù Nồm, xã Lộc Phú, huyện Lộc Ninh đi đến tiệm cầm đồ Thủy Nguyễn tại ấp Hưng Thủy, xã Lộc Thịnh cầm cho anh Nguyễn Đình Th được: 500.000 đồng, còn cục sạc và dây sạc Lôi cất giấu tại nhà. Khoảng một tuần sau khi Lôi đang đi chơi tại khu vực ấp 8, xã Lộc Thuận thì gặp anh Hồ Hữu H1 đang cắt cỏ, Lôi hỏi anh Tr có mua điện thoại không và đưa giấy cầm đồ cho anh Tr xem, anh Tr đồng ý mua với giá 1.500.000 đồng và đưa tiền, xe mô tô cho Lôi để đi chuộc điện thoại. Lôi điều khiển xe của anh Tr đến tiệm cầm đồ Thủy Nguyễn chuộc lại điện thoại, rồi chạy về nhà lấy cục sạc và dây sạc của ĐTTĐ Iphone trên đưa cho anh Tr, anh Tr thấy không mở được mật khẩu nên hỏi điện thoại của ai thì Lôi nói điện thoại của Lôi, Lôi quên mật khẩu nên bán. Anh Tr nghĩ có thể chạy lại chương trình nên mua. Sau khi mất tài sản chị Hà đã làm đơn trình báo Công an. (Bút lục 73 – 80, 89 – 96, 97 – 100, 101 – 106)
Sau khi sử dụng hết số tiền bán điện thoại trên, Lôi không có tiền tiêu xài nên khoảng 11 giờ ngày 17/8/2021, Lôi tiếp tục đi tìm tài sản sơ hở để lấy trộm, Lôi đi bộ từ nhà đến khu vực ấp Bồn Xăng, xã Lộc Quang thì thấy nhà anh Nguyễn Văn P cửa nhà không đóng nên Lôi lén lút đi bộ ra phía sau vườn, chui qua hàng rào đi vào trong nhà, thấy trong phòng ngủ anh P có để 01 ĐTDĐ Vivo Y72 màu xanh đang sạc pin trên giỏ nhựa gắn sát tường nên Lôi lấy trộm ĐTDĐ, dây cáp và cục sạc bỏ vào túi quần rồi đem về nhà. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày Lôi mượn xe mô tô biển số 93E1 – 073.18 của Lâm Ly đến tiệm cầm đồ Thủy Nguyễn tại ấp Hưng Thủy, xã Lộc Thịnh cầm cho anh Nguyễn Đình Th được 2.000.000 đồng. Lôi sử dụng hết số tiền trên. Sau khi mất tài sản, anh P đã làm đơn trình báo Công an. (Bút lục 73 – 80, 81 – 88, 101 – 106).
- 2 -
Cơ quan CSĐT Công an huyện Lộc Ninh đã thu giữ của anh Hồ Hữu H1: 01 ĐTDĐ Iphone XSMax màu vàng đồng, có ốp lưng màu trắng viền tím, 01 cục sạc và dây sạc; thu giữ của anh Nguyễn Đình Th: 01 ĐTDĐ Vivo Y72 màu xanh, 01 cục sạc, dây sạc và 01 biên nhận cầm đồ.
Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 61/KL.HĐĐGTS ngày 26/8/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lộc Ninh thì 01 ĐTDĐ Iphone XSMax màu vàng đồng có giá 9.500.000 đồng (Bút lục 56 - 57). Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 62/KL.HĐĐGTS ngày 26/8/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lộc Ninh thì 01 ĐTDĐ Vivo Y72 màu xanh có giá 4.200.000 đồng (Bút lục 53 - 54). Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 66/KL.HĐĐGTS ngày 16/9/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lộc Ninh thì 01 bộ dây sạc và cục sạc của ĐTDĐ Iphone XSMax màu vàng đồng có giá 200.000 đồng, 01 ốp lưng màu trắng viền tím không còn giá trị sử dụng (Bút lục 59 – 60). Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 67/KL.HĐĐGTS ngày 16/9/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lộc Ninh thì 01 bộ dây sạc và cục sạc của ĐTDĐ Vivo Y72 màu xanh có giá 100.000 đồng (Bút lục 62 – 63).
Cơ quan CSĐT Công an huyện Lộc Ninh xác định 01 ĐTDĐ Iphone XSMax màu vàng đồng, có ốp lưng màu trắng viền tím, 01 cục sạc và dây sạc là của chị Hồ Thị Thu H, 01 ĐTDĐ Vivo Y72 màu xanh, 01 cục sạc, dây sạc là của anh Nguyễn Văn P nên đã xử lý vật chứng trả cho chị Hà và anh P.
Anh P và chị Hà không yêu cầu bồi thường, anh Hồ Hữu H1 không yêu cầu Lâm L bồi thường số tiền: 1.500.000 đồng. Anh Nguyễn Đình Th yêu cầu Lôi bồi thường số tiền 2.000.000 đồng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lâm L khai nhận tòa bộ hành vi như đã nêu trên.
Tại bản cáo trạng số: 73/CTr-VKS, ngày 03/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Lâm L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS. Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 173 BLHS; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 BLHS, xử phạt bị cáo: Lâm L từ 18 đến 21 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc Lâm L bồi thường cho anh Nguyễn Đình Th số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng).
Người bào chữa cho bị cáo ông Đàm Văn Đức thống nhất với quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước về tội danh và điều luật áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, là người dân tộc thiểu
- 3 -
số, trình độ học vấn thấp, không biết chữ và có nhân thân tốt để áp dụng mức án 15 tháng tù đối với bị cáo.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lộc Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà xét xử công khai hôm nay bị cáo đã hoàn toàn thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản của chị Hồ Thị Thu H và anh Nguyễn Văn P, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra vụ án, phù hợp với kết luận điều tra, cáo trạng và kết luận của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa nên có đủ cơ sở để khẳng định: Vào ngày 24/7/2021, tại ấp Soor Rung, xã Lộc Phú, huyện Lộc Ninh, Lâm L đã có hành vi lén lút lấy trộm 01 ĐTDĐ Iphone XSMax màu vàng đồng, có ốp lưng màu trắng viền tím, 01 cục sạc và dây sạc của chị Hồ Thị Thu H trị giá 9.700.000 đồng. Vào ngày 17/8/2021 tại ấp Bồn Xăng, xã Lộc Quang, huyện Lộc Ninh, Lôi tiếp tục có hành vi lén lút lấy trộm 01 ĐTDĐ Vivo Y72 màu xanh, 01 cục sạc, dây sạc của anh Nguyễn Văn P trị giá 4.300.000 đồng. Tổng giá trị tài sản Lôi trộm cắp là 14.000.000 đồng.
Hai lần bị cáo đều thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo Lôi có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức và làm chủ được hành vi của mình. Bị cáo nhận thức được trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật và bị pháp luật nghiêm trị nhưng do lười biếng lao động, không lo tu chí làm ăn, muốn có tiền để tiêu xài cá nhân nên vẫn thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Hành vi của bị cáo là táo bạo, liều lĩnh, xem thường pháp luật, ảnh hưởng đến trật tự xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tài sản của cá nhân được luật pháp bảo vệ.
Như vậy hai lần bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của chị Hồ Thị Thu H và anh Nguyễn Văn P đều đủ dấu hiệu cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS.
- 4 -
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Do 02 lần bị cáo thực hiện hành vi lén lút lấy trộm tài sản của chị Hà và anh P đều đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm nên bị cáo phải chịu tính tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ Luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người dân tộc thiểu số, trình độ học vấn thấp, am hiểu pháp luật còn hạn chế. Đây là tình tiết xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS. Hội đồng xét xử cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo Lôi.
Về hình phạt đối với bị cáo: Xét tổng giá trị tài sản mà bị cáo trộm cắp tương đối lớn là 14.000.000 đồng, phạm tội 02 lần và bị cáo là người sử dụng ma túy. Để răn đe, giáo dục bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội và để phòng ngừa chung, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian và có mức hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Người bào chữa cho bị cáo ông Đàm Văn Đức đề nghị áp dụng với bị cáo 15 tháng tù là nhẹ, chưa tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử không chấp nhận. Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt 18 tháng tù đối với bị cáo là phù hợp.
Anh Hồ Hữu H1 và anh Nguyễn Đình Th có hành vi mua điện thoại và cầm điện thoại của Lâm L nhưng anh Tr và anh Thủy không biết do Lôi lấy trộm. Anh Lâm Ly có hành vi cho Lâm L mượn xe mô tô biển số: 93E1 – 073.18 để đi cầm điện thoại nhưng anh Ly không biết việc Lôi đi tiêu thụ tài sản do lấy trộm. Vì vậy, Cơ quan CSĐT Công an huyện Lộc Ninh không xử lý đối với anh Hồ Hữu H1, anh Nguyễn Đình Th và anh Lâm Ly là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Tài sản đã thu hồi trả lại cho các bị hại Hồ Thị Thu H và Nguyễn Văn P. Chị Hà và anh P không yêu cầu bồi thường. Anh Hồ Hữu H1 cũng không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 1.500.000 đồng nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Anh Nguyễn Đình Th yêu cầu Lôi bồi thường số tiền 2.000.000 đồng, là số tiền mà anh Thủy đã cầm điện thoại cho bị cáo, tuy nhiên bị cáo chưa bồi thường cho anh Thủy. Tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường cho anh Thủy số tiền 2.000.000 đồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Đình Th, buộc bị cáo Lâm L bồi thường cho anh Nguyễn Đình Th số tiền 2.000.000 đồng.
Về vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra xác định 01 ĐTDĐ Iphone XSMax màu vàng đồng, có ốp lưng màu trắng viền tím, 01 cục sạc và dây sạc là của
- 5 -
chị Hồ Thị Thu H, 01 ĐTDĐ Vivo Y72 màu xanh, 01 cục sạc, dây sạc là của anh Nguyễn Văn P nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Lộc Ninh xử lý vật chứng trả cho chị Hà và anh P là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Lâm L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1) Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 BLHS;
Xử phạt bị cáo Lâm L 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tình từ bắt tạm giam bị cáo là ngày 27/8/2021.
2) Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và khoản 1 Điều 586 và Điều 589 Bộ luật Dân sự 2015.
Buộc bị cáo Lâm L bồi thường cho anh Nguyễn Đình Th số tiền 2.000.000đ (Hai triệu đồng).
“Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp Cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ Luật dân sự năm 2015”.
“Trong trường hợp bản án được thi hành quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
3) Về vật chứng của vụ án: Không đặt ra
4) Về án phí: Áp dụng Điều 135; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
5) Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên toà biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
- 6 -
vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Phước; - VKS huyện Lộc Ninh; - Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Chi cục THADS huyện Lộc Ninh; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước; - CA huyện Lộc Ninh; - CA tỉnh Bình Phước; - Lưu hồ sơ vụ án. - 7 - | T/M.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Hồ Thị Oanh |