- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Hồng S - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về hình phạt: Xử phạt ị cáo ng H ng S 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng, tính từ ngày tuy n án phúc thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 81/2021/HS-PT Ngày 22-9-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tân
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Xuân Trường.
Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Sơn – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Trung - Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 88/2021/TLPT-HS ngày 22 tháng 7 năm 2021 đối với bị cáo Lương Hồng Sơn do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 49/2021/HS-ST ngày 16 tháng 6 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
Bị cáo có kháng cáo: ng H ng S, sinh ngày 26 tháng 4 năm 2002 tại: Thành phố C, tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: Khu dân cư N, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 11/12; dân tộc: Kinh ; giới tính: Nam; tôn giáo: Không ; quốc tịch Việt Nam; con ông Lương Văn Ph (t n gọi khác: Lương Xuân Ph) và à Đ Thị D; tiền án; tiền sự: Không; nhân thân: tốt; bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phi n tòa.
Bị hại: Ông Nguyễn Văn Á, sinh năm 1962 và Bà Lê Thị H, sinh năm 1965. Đều ở địa chỉ: Khu dân cư N, phường C, TP. C, tỉnh Hải Dương. Ông Á và bà H đều vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người làm chứng:
1. Bà Nguyễn Thị P; sinh năm 1963; địa chỉ: Số 15.. đường Nguyễn Thị D, Khu dân cư T2, phường Sao Đỏ, TP. Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
2. Bà Lê Thị D; sinh năm 1966; địa chỉ: Khu dân cư N, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
3. Anh Lưu Văn D; sinh năm 2002; địa chỉ: Khu dân cư V, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
4. Anh Nguyễn Văn Th; sinh năm 2004; địa chỉ: Khu dân cư K, phường T, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 14/01/2021, Lương Hồng S đi ộ từ nhà đến nhà anh L Văn Tr, sinh năm 1994 ở Khu dân cư N, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương để mượn xe nhưng anh Tr không đồng ý vì vậy S bỏ đi. Khi qua cổng nhà ông L Văn G, S nhìn thấy chiếc xe máy điện, màu đen, nhãn hiệu NIJIA, biển số 34MĐ2-04.., đăng ký xe mang t n à L Thị H là tài sản chung của bà H và chồng là ông Nguyễn Văn Á, sinh năm 1962; cùng trú tại: Khu dân cư N, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương dựng ở sân. S đi vào sân gọi “anh Duẩn ơi có ai ở nhà không” nhưng không thấy có ai trả lời. Thấy vậy, S liền nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe máy điện. Sơn tiến đến vị trí chiếc xe máy điện vặn nút khóa xe ở ổ khóa rồi điều khiển xe đi đến quán nét VIP 15 của bà Nguyễn Thị Ph, sinh năm 1963, ở số nhà 1.. đường Nguyễn Thị D, Khu dân cư T, phường S, thành phố C, Hải Dương ngồi chơi điện tử. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, S để lại chiếc xe máy điện tại quán nét VIP 15 của bà Ph rồi lên xe us đi làm tại tỉnh Bắc Giang. Sau khi bị phát hiện mất xe máy điện, bà H đã có đơn đề nghị Cơ quan CSĐT Công an thành phố Chí Linh để điều tra. Ngày 26/01/2021 S đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương đầu thú về hành vi phạm tội.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 03/HĐĐG ngày 21/01/2021, Hội đồng định giá tài sản thành phố Chí Linh kết luận: Tại thời điểm ngày 14/01/2021, chiếc xe máy điện nhãn hiệu NIJIA, màu đen, iển số 34MĐ2-044.60 có trị giá là 10.600.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 49/2021/HS-ST ngày 16 tháng 6 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương đã quyết định: Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Lương Hồng S phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Lương Hồng S 09 (Chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng.
Ngày 28/6/2021 Lương Hồng S kháng cáo đề nghị được hưởng án treo. Trước khi mở phiên tòa phúc thẩm, bị cáo nộp bản sao biên lai thu tiền án phí sơ thẩm (trước quyết định thi hành án).
Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo thành khẩn khai áo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo đề nghị được hưởng án treo.
Bị hại vắng mặt tại phi n tòa, trong đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị hại không đề nghị bị cáo phải bồi thường gì th m đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử (viết tắt HĐXX) chấp nhận kháng cáo và cho bị cáo được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương (viết tắt VKSND) trình bày: Căn cứ vào điểm khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo của ị cáo, sửa ản án hình sự sơ thẩm số 49/2021/HS-ST ngày 16 tháng 6 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương về phần hình phạt. Xử phạt ị cáo 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng, tính từ ngày tuy n án phúc thẩm. Giao ị cáo cho UBND phường Chí Minh, thành phố Chí Linh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Tr n cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Bị cáo kháng cáo trong thời hạn luật định nên kháng cáo hợp lệ. Bị hại vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, những người làm chứng vắng mặt nhưng không làm ảnh hưởng đến việc xét xử. Do vậy, HĐXX tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
Về nội dung: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ, nên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 14/01/2021, tại sân nhà ông L Văn G ở Khu dân cư N, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương, Lương Hồng S đã l n lút chiếm đoạt của ông Nguyễn Văn Á và à L Thị H 01 chiếc xe máy điện nhãn hiệu NIJIA, màu đen, biển số 34MĐ2-044… trị giá là 10.600.000 đồng. Bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương x t xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Về tội danh không có kháng cáo, kháng nghị n n HĐXX không xem x t giải quyết.
Xét kháng cáo của bị cáo, HĐXX x t thấy: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội đã ra đầu thú và thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; bị cáo có bố đẻ được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất; ị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo nộp biên lai thu tiền án phí sơ thẩm (nộp trước quyết định thi hành án), bị hại có đơn đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo. Xét thấy bị cáo là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Bị cáo nhất thời phạm tội. Bản thân bị cáo đã thể hiện rõ sự ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của BLHS, do vậy HĐXX áp dụng Điều 65 của BLHS xử phạt bị cáo hình phạt tù cho hưởng án treo là phù hợp, việc cho bị cáo được hưởng án treo cũng không làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự tại địa phương đồng thời cũng tạo điều kiện cho bị cáo được lao động, cải tạo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội. Từ phân tích trên, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự. HĐXX chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 49/2021/HS-ST ngày 16 tháng 6 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương về phần hình phạt.
Về án phí: Kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 49/2021/HS-ST ngày 16 tháng 6 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương về phần hình phạt.
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
1.Về hình phạt: Xử phạt ị cáo ng H ng S 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng, tính từ ngày tuy n án phúc thẩm.
Giao bị cáo Lương Hồng S cho Uỷ an nhân dân phường C, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương nơi ị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về án phí: Bị cáo Lương Hồng S không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: -VKSND tỉnh Hải Dương; -Phòng HSNV-Công an tỉnh Hải Dương; -Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương; -TAND và VKSND thành phố Chí Linh; -Chi cục T.H.A Dân sự thành phố Chí Linh; -CQCSĐT - Công an thành phố Chí Linh; -UBND phường Chí Minh, TP Chí Linh; - Bị cáo, bị hại; -Lưu hồ sơ, lưu VP, lưu Tòa GĐ&NCTN. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Nguyễn Minh Tân |