vanban.org

Bản án 81/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 14/04/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố các bị cáo Đỗ Văn K., Huỳnh Văn B. và Nguyễn Văn C. phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Xử phạt bị cáo Đỗ Văn K. 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/11/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƯƠNG
Bản án số: 81/2020/HS-ST
Ngày: 14 – 4 – 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Thiệu Văn Kết Em.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Dương Thị Bạn;

Bà Nguyễn Ngọc Hồng.

- Thư ký phiên toà: Ông Ngô Quang Ngọc Nhân, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Mai Chiến Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 60/2020/HSST ngày 28 tháng 02 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2020/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2020 đối với các bị cáo:

1. Đỗ Văn K., sinh năm 1987 tại Thành phố Cần Thơ; nơi cư trú: M, xã S, huyện B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Đình H., sinh năm 1949 và bà Phạm Thị N., sinh năm 1953; bị cáo có vợ tên Trần Kim B., sinh năm 1987 và 01 con sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

- Ngày 30/7/2013 bị Công an thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản.

- Ngày 17/9/2014, bị Toà án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xử phạt 03 tháng 13 ngày tù về tội trộm cắp tài sản, theo Bản án số 162/2014/HSST.

- Ngày 08/7/2015, bị Toà án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, theo bản án số 162/2015/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/11/2015.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/11/2019 cho đến nay.

2. Huỳnh Văn B., sinh năm 1991 tại tỉnh Đồng Tháp; nơi cư trú: xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn Long N., sinh năm 1970 và bà Trần Thị Kim T., sinh năm 1971; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Cẩm T1., sinh năm 1997 và 01 người con sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

- Ngày 20/7/2006 bị Uỷ ban nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng với thời hạn 12 tháng theo Quyết định số 1976/QĐ-UBND, chấp hành xong ngày 27/12/2007.

- Ngày 21/8/2015, bị Toà án nhân dân huyện Tân Hưng, tỉnh Long An xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, theo Bản án số 09/2015/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/02/2016.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/11/2019 cho đến nay.

3. Nguyễn Văn C. (tên gọi khác: Nguyễn Mạnh C., Kỳ), sinh năm 1977 tại tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: Thôn Q3, thị trấn T, huyện K, tỉnh Đăk Lăk; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Mạnh V, sinh năm 1949 và bà Ngô Thị Thu H., sinh năm 1952; bị cáo có vợ tên Vũ Thị N., sinh năm 1985 và 04 người con sinh năm 2007, 2009, 2012 và 2015;

Tiền án: Ngày 18/12/2000, bị Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt 42 tháng tù, về tội Hủy hoại tài sản; Gây rối trật tự công cộng; Cướp tài sản xã hộ chủ nghĩa, theo Bản án số 56/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/6/2003, chưa chấp hành xong phần trách nhiệm dân sự.

Tiền sự: Không; nhân thân: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/11/2019 cho đến nay.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

- Bà Phạm Thị Kim H., sinh năm 1986; nơi cư trú: khu phố P, phường C, thành phố A, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

- Ông Đinh Văn T2, sinh năm 1998; nơi cư trú: khu phố T., phường H., thị xã U, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Bà Lê Thị Thương, sinh năm 1984; nơi cư trú: Phường X, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.

- Công ty TNHH Đầu tư, xây dựng bất động sản và dịch vụ Vận tải Đ; trụ sở: Khu phố B, phường M, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Văn Đ., sinh năm 1989, chức vụ Giám đốc. Vắng mặt.

- Ông Phạm Minh T3, sinh năm 1995; nơi cư trú: Thôn I, xã V, huyện L, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền tiêu xài nên bị cáo Đỗ Văn K. nảy sinh ý định trộm chó của người khác mang đi bán. Để thực hiện ý định trên, vào khoảng 19 giờ ngày 04/11/2019, K. thuê dịch vụ Grab chở từ nhà tại địa chỉ ấp M, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai đến quán cafe 7777 toạ lạc tại khu phố P, phường C, thành phố A, tỉnh Bình Dương, mang theo 01 ba lô bằng vải màu xanh, đen bên trong chứa bộ dụng cụ trộm chó, 01 túi nilon màu đen bên trong chứa 10 túi bột ớt màu đỏ, số công cụ trên do K. mua vào khoảng cuối tháng 10/2019, từ một người đàn ông không rõ lai lịch, qua mạng xã hội Facebook với giá là 2.000.000 đồng để thực hiện hành vi trộm chó. Khi đi đến nơi, K. điện thoại cho Huỳnh Văn B. rủ đi trộm chó bán lấy tiền tiêu xài thì B. đồng ý. Lúc này, K. ngồi uống nước cùng Nguyễn Văn C. là bạn quen biết thông qua người thanh niên tên Lợi, K. rủ C. cùng đi trộm chó thì C. đồng ý. Khoảng 20 giờ cùng ngày, B. điều khiển xe ô tô kiểu dáng Inova màu xám mang biển số 51G – 354.38 (do B. thuê) đến quán cafe 7777 gặp K. và C.. Cả nhóm ngồi đến khoảng 22 giờ 30 phút, ngày 04/11/2019, B. kêu cả nhóm lên xe ô tô để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản như đã bàn bạc. K. lấy 02 biển số xe ô tô 52F – 389.68 bên trong ba lô mang theo đưa cho B. và nói B. lắp đè lên biển số xe 51G – 354.38. Sau khi lắp biển số xong, K. nói B. trực tiếp điều khiển xe ô tô còn K. lấy 01 súng bắn điện tự chế, 01 gậy chích điện tự chế, 01 B. ắc quy kèm theo bộ kích điện có sẵn bên trong ba lô mang ra bên ngoài. Trên đường đi, K. thoả thuận sẽ chia tiền cho B. và C., tuỳ thuộc vào lợi nhuận thu được từ việc trộm chó nhiều hay ít.

Các bị cáo thực hiện hành vi với thủ đoạn như sau:

- Bị cáo B. điều khiển xe ô tô chở cả nhóm di chuyển trên các tuyến đường nội ô, tại địa bàn phường B., thành phố A, tỉnh Bình Dương; phường H, thị xã U, tỉnh Bình Dương tìm chó thả rông của người dân để trộm cắp. Sau khi phát hiện chó, B. sẽ điều khiển xe ô tô tiếp cận để K. dùng súng bắn điện làm chó bất tỉnh, sau đó dùng băng keo có sẵn quấn quanh vùng mỏ, 02 chân trước, 02 chân sau rồi đặt bên trên tấm bạt đã phủ sẵn bên trong xe ô tô.

- Bị cáo C. ngồi ghế bên phải cạnh B., hỗ trợ việc mang chó lên xe sau khi K. bắn được.

Các bị cáo đã lần lượt trộm 04 con chó tại các địa điểm cụ thể như sau:

Con thứ 1: 01 con chó lông màu xám, đen có cân nặng 10,5 kg của bà Phạm Thị Kim H. tại đường Bình Chuẩn 43 giao nhau với đường L, thuộc khu phố P, phường C, thành phố A, tỉnh Bình Dương.

Con thứ 2: 01 con chó lông màu trắng, xám có cân nặng 12 kg không xác định được chủ sở hữu, tại đường Tân Phước Khánh 09, cách đường L 20 mét, thuộc khu phố P, phường C., thành phố A, tỉnh Bình Dương.

Con thứ 3: 01 con chó lông màu vàng, đen có cân nặng 11 kg không xác định được chủ sở hữu, tại khu vực khu phố H, phường T, thị xã U, tỉnh Bình Dương.

Con thứ 4: 01 con chó lông màu đen, trắng, vàng có cân nặng 13,5 kg của anh Đinh Văn T. tại khu phố P, phường T, thị xã Tân U, tỉnh Bình Dương.

Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 05/11/2019, khi cả nhóm đến ngã tư giao nhau giữa đường V và đường K thuộc khu phố B2, phường G, thành phố TA, do có biểu hiện nghi vấn nên bị Tổ tuần tra Công an tỉnh Bình Dương kiểm tra phát hiện bắt giữ cùng tang vật.

Vật chứng thu giữ:

+ 01 súng bắn điện tự chế thân bằng gỗ màu nâu, dài khoảng 33 cm, phần đầu trên thân súng có gắn ống bằng kim loại dài khoảng 6,5 cm được quấn băng keo màu đỏ và được buộc dây thun màu xanh.

+ 03 gậy chích điện tự chế thân bằng gỗ màu nâu, dài khoảng 38 cm, đầu gậy có gắn 02 mũi nhọn bằng kim loại màu đen dài khoảng 09 cm, gắn dây điện màu đỏ.

+ 01 bình ắc quy loại nhỏ, 12V, màu cam có bộ kích điện kèm theo.

+ 28 cuộn băng keo, một số cuộn đã qua sử dụng, gồm có: 01 cuộn màu xanh lá, 01 cuộn màu vàng, 02 cuộn màu trắng, 24 cuộn màu đen.

+ 01 bịch dây rút màu trắng đã qua sử dụng một phần.

+ 02 biển số xe ô tô 52F – 389.68.

+ 01 con dao thái lan cán bằng nhựa màu vàng, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng, dài khoảng 20 cm.

+ 01 cây đen pin chiếu sáng loại lớn màu xanh, đen loại 12V cầm tay.

+ 01 ná thun thân bằng nhựa mùa trắng, gắn dây thun màu đỏ.

+ 02 cây vít bake, gồm: 01 cây cán nhựa màu trắng, dài khoảng 30 cm; 01 cây cán nhựa màu vàng, dài khoảng 19 cm.

+ 02 bình xịt hơi cay đã qua sử dụng, gồm: 01 bình nhỏ màu trắng, đen cao khoảng 10 cm; 01 bình lớn màu xanh, đen cao khoảng 15 cm, trên thân bình có in chữ NATO màu trắng.

+ Nhiều đoạn dây điện màu đỏ với nhiều kích thước khác nhau.

+ 01 ba lô bằng vải màu xanh, đen.

+ 10 bịch bột ớt màu đỏ.

+ 02 tấm bạt màu cam, xanh.

+ 04 con chó.

Tại biên bản định giá và kết luận định giá tài sản ngày 07/11/2019, của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự Công an thị xã Thuận An kết luận:

- 01 con chó lông màu xám, đen có cân nặng 10,5 kg có trị giá là 945.000 đồng.

- 01 con chó lông màu trắng, xám có cân nặng 12 kg có trị giá là 1.080.000 đồng.

- 01 con chó lông màu vàng, đen có cân nặng 11 kg có trị giá là 990.000 đồng.

- 01 con chó lông màu đen, trắng, vàng có cân nặng là 13,5 kg có trị giá là 1.215.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản các bị cáo đã chiếm đoạt được là 4.230.000 đồng, trong đó giá trị tài sản các bị cáo chiếm đoạt của bị hại Hoa và Tuấn là 2.160.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số: 81/CT-VKS-TA ngày 27/02/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo Đỗ Văn K., Huỳnh Văn B. và Nguyễn Văn C. về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Văn K. mức hình phạt từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng; xử phạt bị cáo Huỳnh Văn B. mức hình phạt từ 09 tháng đến 01 năm tù.

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C. mức hình phạt từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng.

- Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 súng bắn điện tự chế thân bằng gỗ màu nâu, dài khoảng 33 cm, phần đầu trên thân súng có gắn ống bằng kim loại dài khoảng 6,5 cm được quấn băng keo màu đỏ và được buộc dây thun màu xanh; 03 gậy chích điện tự chế thân bằng gỗ màu nâu, dài khoảng 38 cm, đầu gậy có gắn 02 mũi nhọn bằng kim loại màu đen dài khoảng 09 cm, gắn dây điện màu đỏ; 01 bình ắc quy loại nhỏ, 12V, màu cam có bộ kích điện kèm theo; 28 cuộn băng keo, một số cuộn đã qua sử dụng, gồm có: 01 cuộn màu xanh lá, 01 cuộn màu vàng, 02 cuộn màu trắng, 24 cuộn màu đen; 01 bịch dây rút màu trắng đã qua sử dụng một phần; 01 con dao thái lan cán bằng nhựa màu vàng, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng, dài khoảng 20 cm; 01 cây đen pin chiếu sáng loại lớn màu xanh, đen loại 12V cầm tay; 01 ná thun thân bằng nhựa mùa trắng, gắn dây thun màu đỏ; 02 cây vít bake, gồm: 01 cây cán nhựa màu trắng, dài khoảng 30 cm; 01 cây cán nhựa màu vàng, dài khoảng 19 cm; 02 bình xịt hơi cay đã qua sử dụng, gồm: 01 bình nhỏ màu trắng, đen cao khoảng 10 cm; 01 bình lớn màu xanh, đen cao khoảng 15 cm, trên thân bình có in chữ NATO màu trắng; nhiều đoạn dây điện màu đỏ với nhiều kích thước khác nhau; 01 ba lô bằng vải màu xanh, đen; 10 bịch bột ớt màu đỏ với nhiều trọng lượng khác nhau bên trong 01 túi nilon màu đen; 02 tấm bạc màu cam, xanh có kích thước 02 x 03 cm mỗi tấm; 02 biển số xe ô tô 52F – 389.68.

+ 01 con chó lông màu xám, đen có cân nặng 10,5 kg của bà Phạm Thị Kim H.; 01 con chó lông màu đen, trắng, vàng có cân nặng 13,5 kg của anh Đinh Văn T., Cơ quan CSĐT Công an thị xã Thuận An đã tiến hành trả lại cho chủ sở hữu theo quy định. 01 con chó lông màu trắng, xám có cân nặng 12 kg và 01 con chó lông màu vàng, đen có cân nặng 11 kg không xác định được chủ sở hữu, đã chết nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã Thuận An đã tiến hành tiêu huỷ 02 con chó trên theo quy định.

+ Đối với 01 xe ô tô kiểu dáng Inova màu xám mang biển số 51G – 354.38, có số máy 1TRA259450, số khung RL4JW8EM9H3227695, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Thuận An đã trả lại chiếc xe trên cho Công ty TNHH đầu tư, xây dựng bất động sản và dịch vụ vận tải Đ là phù hợp.

- Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra các bị hại không có yêu cầu các bị cáo bồi thường nên không xem xét.

Các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xác định nội dung Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố đối với các bị cáo là đúng hành vi bị cáo đã thực hiện. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa và không có ý kiến gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, vật chứng thu giữ, lời khai của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 22 giờ 30 phút, ngày 04/11/2019 đến 0 giờ 30 phút ngày 05/11/2019, bằng thủ đoạn dùng xe ôtô, súng bắn điện và các công cụ hỗ trợ khác đã được chuẩn bị sẵn, các bị cáo Đỗ Văn K., Huỳnh Văn B., Nguyễn Văn C. đã lén lút chiếm đoạt 02 con chó của các bị hại Phạm Thị Kim H. và Đinh Văn T., giá trị tài sản các bị cáo chiếm đoạt là 2.160.000 đồng, sau đó các bị cáo bị phát hiện, bắt giữ.

Hành vi và thủ đoạn của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Quá trình thực hiện hành vi phạm tội nếu bị phát hiện thì các bị cáo sẵn sàng chống trả bằng các công cụ, phương tiện đã chuẩn bị sẵn như bột ớt, súng điện, bình xịt hơi cay, gây ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe của bị hại và những người truy đuổi. Các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, các bị cáo biết rõ hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì động cơ tham lam, tư lợi, lười lao động nên các bị cáo vẫn cố ý thực hiện, do đó cần có mức án phù hợp với hành vi của từng bị cáo nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo cũng như phòng ngừa chung cho xã hội.

Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do đó, cáo trạng truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Trong vụ án có vai trò đồng phạm nhưng chỉ là đồng phạm giản đơn, bị cáo K. là người rủ rê các bị cáo còn lại và là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội nên vai trò của K. là cao nhất. Bị cáo C. và bị cáo B. có vai trò ngang nhau nên khi lượng hình cũng cân nhắc cho phù hợp.

Về nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân xấu, đã từng bị Tòa án xử phạt và phải chấp hành hình phạt tù nhưng các bị cáo không lấy đó làm bài học mà lại tiếp tục phạm tội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn C. chưa được xóa án tích nhưng lại tiếp tục phạm tội nên thuộc tình tiết tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị xử phạt các bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

Đối với: 01 súng bắn điện tự chế thân bằng gỗ màu nâu, dài khoảng 33 cm, phần đầu trên thân súng có gắn ống bằng kim loại dài khoảng 6,5 cm được quấn băng keo màu đỏ và được buộc dây thun màu xanh; 03 gậy chích điện tự chế thân bằng gỗ màu nâu, dài khoảng 38 cm, đầu gậy có gắn 02 mũi nhọn bằng kim loại màu đen dài khoảng 09 cm, gắn dây điện màu đỏ; 01 bình ắc quy loại nhỏ, 12V, màu cam có bộ kích điện kèm theo; 28 cuộn băng keo, một số cuộn đã qua sử dụng, gồm có: 01 cuộn màu xanh lá, 01 cuộn màu vàng, 02 cuộn màu trắng, 24 cuộn màu đen; 01 bịch dây rút màu trắng đã qua sử dụng một phần; 01 con dao thái lan cán bằng nhựa màu vàng, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng, dài khoảng 20 cm; 01 cây đen pin chiếu sáng loại lớn màu xanh, đen loại 12V cầm tay; 01 ná thun thân bằng nhựa mùa trắng, gắn dây thun màu đỏ; 02 cây vít bake, gồm: 01 cây cán nhựa màu trắng, dài khoảng 30 cm; 01 cây cán nhựa màu vàng, dài khoảng 19 cm; 02 bình xịt hơi cay đã qua sử dụng, gồm: 01 bình nhỏ màu trắng, đen cao khoảng 10 cm; 01 bình lớn màu xanh, đen cao khoảng 15 cm, trên thân bình có in chữ NATO màu trắng; nhiều đoạn dây điện màu đỏ với nhiều kích thước khác nhau; 01 ba lô bằng vải màu xanh, đen; 10 bịch bột ớt màu đỏ với nhiều trọng lượng khác nhau bên trong 01 túi nilon màu đen; 02 tấm bạc màu cam, xanh có kích thước 02 x 03 cm mỗi tấm và 02 biển số xe ô tô 52F – 389.68, đây là các công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng để thực hiện tội phạm, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với vật chứng là 01 xe ô tô kiểu dáng Inova màu xám mang biển số 51G – 354.38, có số máy 1TRA259450, số khung RL4JW8EM9H3227695 các bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội, quá trình điều tra xác định chiếc xe trên thuộc sở hữu của Công ty TNHH đầu tư, xây dựng bất động sản và dịch vụ vận tải Đ. do ông Phan Văn Đ. là người đại diện theo pháp luật. Việc các bị cáo thuê xe để thực hiện hành vi phạm tội Công ty Đ. không biết, do đó Cơ quan CSĐT Công an thị xã Thuận An đã trả lại chiếc xe trên cho Công ty Đ. là phù hợp.

Đối với 01 con chó lông màu xám, đen có cân nặng 10,5 kg của bà Phạm Thị Kim H.; 01 con chó lông màu đen, trắng, vàng có cân nặng 13,5 kg của anh Đinh Văn T., Cơ quan CSĐT Công an thị xã Thuận An đã tiến hành trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp. 01 con chó lông màu trắng, xám có cân nặng 12 kg và 01 con chó lông màu vàng, đen có cân nặng 11 kg đã chết, không xác định được chủ sở hữu nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã Thuận An đã tiến hành tiêu huỷ 02 con chó trên là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 47, 48 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đỗ Văn K., Huỳnh Văn B.;

- Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 47, 48 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn C.;

- Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 – 12 – 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố các bị cáo Đỗ Văn K., Huỳnh Văn B. và Nguyễn Văn C. phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Xử phạt bị cáo Đỗ Văn K. 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/11/2019.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn B. 10 (mười) tháng tù thời hạn tù tính từ ngày 05/11/2019.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C. 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/11/2019.

2. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy:

- 01 súng bắn điện tự chế thân bằng gỗ màu nâu, dài khoảng 33 cm, phần đầu trên thân súng có gắn ống bằng kim loại dài khoảng 6,5 cm được quấn băng keo màu đỏ và được buộc dây thun màu xanh;

- 03 gậy chích điện tự chế thân bằng gỗ màu nâu, dài khoảng 38 cm, đầu gậy có gắn 02 mũi nhọn bằng kim loại màu đen dài khoảng 09 cm, gắn dây điện màu đỏ;

- 01 bình ắc quy loại nhỏ, 12V, màu cam có bộ kích điện kèm theo; 28 cuộn băng keo, một số cuộn đã qua sử dụng, gồm có:

- 01 cuộn màu xanh lá, 01 cuộn màu vàng, 02 cuộn màu trắng, 24 cuộn màu đen; 01 bịch dây rút màu trắng đã qua sử dụng một phần;

- 01 con dao thái lan cán bằng nhựa màu vàng, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng, dài khoảng 20 cm; 01 cây đen pin chiếu sáng loại lớn màu xanh, đen loại 12V cầm tay; 01 ná thun thân bằng nhựa mùa trắng, gắn dây thun màu đỏ;

- 02 cây vít bake, gồm: 01 cây cán nhựa màu trắng, dài khoảng 30 cm;

- 01 cây cán nhựa màu vàng, dài khoảng 19 cm;

- 02 bình xịt hơi cay đã qua sử dụng, gồm: 01 bình nhỏ màu trắng, đen cao khoảng 10 cm; 01 bình lớn màu xanh, đen cao khoảng 15 cm, trên thân bình có in chữ NATO màu trắng; nhiều đoạn dây điện màu đỏ với nhiều kích thước khác nhau;

- 01 ba lô bằng vải màu xanh, đen;

- 10 bịch bột ớt màu đỏ với nhiều trọng lượng khác nhau bên trong 01 túi nilon màu đen;

- 02 tấm bạc màu cam, xanh có kích thước 02 x 03 cm mỗi tấm và 02 biển số xe ô tô 52F – 389.68.

(theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28/02/2020 giữa Công an thành phố Thuận An và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương).

3. Về án phí:

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai./.

Cỡ chữ