vanban.org

Bản án 81/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình Tuyên án 30/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Quang H, Đỗ Khắc T, Phạm Tùng L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: 1. Xử phạt bị cáo Trần Quang H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/3/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Quang H cùng đồng phạm phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sun…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Quang H, Đỗ Khắc T, Phạm Tùng L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI BÌNH
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 81/2020/HS-ST
Ngày: 30-6-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Thái.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Vũ Tiến Thịnh.

2. Bà Lê Thị Sinh Chi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Quỳnh Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Tô Hồng Thái - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 79/2020/HSST ngày 01 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2020/QĐXXST-HS ngày 13/6/2020 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 03/2020/TỉNH THÁI BÌNH-TA ngày 24/6/2020, đối với các bị cáo:

1. Trần Quang H, sinh ngày 26/9/1998; giới tính: Nam; đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Thôn K, xã M, huyện V, tỉnh Thái Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn (văn hóa): 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Trần Văn N và con bà Trần Thị P; bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Bản án số 101/2017/HSST ngày 27/12/2017 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Thái Bình xử phạt bị cáo Trần Quang H 04 tháng tù giam về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, chấp hành xong hình phạt tháng 02/2018. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/3/2020 đến ngày 31/3/2020 chuyển tạm giam cho đến nay, bị cáo bị trích xuất, có mặt tại phiên tòa.

2. Đỗ Khắc T, sinh ngày 29/5/2002; giới tính: Nam; đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Thôn Đ, xã N, huyện V, tỉnh Thái Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn (văn hóa): 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Đỗ Khắc B và con bà Nguyễn Thị T (đã chết); bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/3/2020 đến ngày 31/3/2020 chuyển tạm giam cho đến nay, bị cáo bị trích xuất, có mặt tại phiên tòa.

3. Phạm Tùng L, sinh ngày 29/8/2002; giới tính: Nam; đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Thôn K, xã M, huyện V, tỉnh Thái Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn (văn hóa): 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Phạm Văn T và con bà Nguyễn Thị G; bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/3/2020 đến ngày 31/3/2020 chuyển tạm giam cho đến nay, bị cáo bị trích xuất, có mặt tại phiên tòa.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Tùng L:

Ông Phạm Văn T, sinh năm 1970 (có mặt)

Nơi cư trú: Thôn K, xã M, huyện V, tỉnh Thái Bình.

- Người bào chữa cho bị cáo Đỗ Khắc T và bị cáo Phạm Tùng L:

Ông Đào Quang Nghị - Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thái Bình (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Phạm Văn T, sinh năm 1970 (có mặt)

Nơi cư trú: Thôn K, xã M, huyện V, tỉnh Thái Bình.

- Người chứng kiến:

1. Anh Nhâm Văn H, sinh năm 1987; trú tại: Tổ 01, phường P, thành phố T, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).

2. Ông Lê Đức M, sinh năm 1970; trú tại: Tổ 09, phường P, thành phố T, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 27/3/2020, bị cáo Phạm Tùng L đang ngồi chơi game ở xã M, huyện V, tỉnh Thái Bình thì bị cáo Trần Quang H đến và hỏi mượn bị cáo L chiếc xe máy nhãn hiệu LONGCIN, màu nâu, biển số đăng ký 17F5 - 3440 của bị cáo L, bị cáo L đồng ý. Bị cáo Trần Quang H điều khiển xe máy đến chỗ ở của bị cáo Đỗ Khắc T đang ở trọ tại thôn Đ, xã P, thành phố T chơi. Trong lúc ngồi chơi nói chuyện bị cáo T nói với bị cáo H: “Anh em mình đi mua ma túy đá về sử dụng chung đi?”, bị cáo H nói: “Anh không có tiền”, bị cáo T nói: “Em cũng không có tiền”, bị cáo H nói: “Để anh bảo thằng L”, bị cáo T đồng ý, sau đó bị cáo H điều khiển xe máy chở bị cáo T đến chỗ bị cáo L. Khoảng 21 giờ, bị cáo H và bị cáo T gặp bị cáo L ở xã M, huyện V, tỉnh Thái Bình, bị cáo H nói với bị cáo L: “Anh em mình đi mua ma túy về sử dụng chung”, bị cáo L đồng ý và lấy 150.000 đồng đưa cho bị cáo H. Sau đó, bị cáo Đỗ Khắc T điều khiển xe máy chở bị cáo Trần Quang H cùng bị cáo Phạm Tùng L đi mua ma túy về cùng sử dụng. Khi đi đến khu vực tổ 11, phường Q, thành phố T thì bị cáo H bảo bị cáo T dừng xe, bị cáo L và bị cáo T đứng chờ. Bị cáo Trần Quang H điều khiển xe một mình đến khu vực 04, phường Q và mua được 01 túi ma túy đá của một người đàn ông không quen biết với giá 150.000 đồng, bị cáo H cầm số ma túy vừa mua được trong lòng bàn tay trái và đi đến chỗ bị cáo L và bị cáo T. Khi đến nơi, bị cáo H đưa xe cho bị cáo T điều khiển để chở bị cáo H và bị cáo L đi tìm nơi sử dụng. Khi các bị cáo đi đến khu vực tổ 01, phường P, thành phố T thì gặp tổ công tác của Công an phường P, thành phố T thấy xe máy đi 03 người đã yêu cầu kiểm tra. Trước sự chứng kiến của anh Nhâm Văn H và ông Lê Đức M bị cáo H đã tự giác giao nộp cho tổ công tác 01 túi nilon trong suốt có mép cài viền màu xanh bên trong có chứa chất dạng tinh thể trong suốt. Tổ công tác đã cho số ma túy trên vào trong phong bì gián kín trên mép gián có chữ ký của của các bị cáo và những người chứng kiến. Sau đó tổ công tác đã đưa các bị cáo và mời những người chứng kiến về trụ sở Công an phường P, thành phố T để làm việc. Tại đây, tổ công tác đã thu giữ trong túi quần bên trái của bị cáo H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6Plus, màu vàng trắng; thu tại túi quần bên trái của bị cáo T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5, màu vàng trắng; thu tại túi quần bên phải của bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu vàng trắng; kiểm tra người bị cáo L và xe máy không phát hiện và thu giữ gì thêm. Sau đó tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng.

Tại bản kết luận giám định số 112/KLGD - PC09 ngày 30/3/2020 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Chất dạng tinh thể trong suốt trong phong bì niêm phong ghi “Vật chứng thu giữ của Trần Quang H, sinh năm 1998, đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn K, xã M, huyện V, tỉnh Thái Bình ngày 27/3/2020 là ma túy, loại Methamphetaminhe, có khối lượng 0,2405 gam (Không phẩy hai nghìn bốn trăm linh lăm gam).

Cáo trạng số 79/CT-VKSTPTB ngày 31/5/2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình truy tố các bị cáo Trần Quang H, Đỗ Khắc T và Phạm Tùng Lvề tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Tại phiên toà, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thái Bình giữ nguyên truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử :

Tuyên bố: Các bị cáo Trần Quang H, Đỗ Khắc T và Phạm Tùng L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51; điều 17; điều 50; điều 58; điều 38 Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt bị cáo Trần Quang H từ 15 đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/3/2020.

2. Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51; điều 17; điều 50; điều 58; điều 38; điều 91; điều 101 Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt bị cáo Đỗ Khắc T từ 09 tháng đến 01 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/3/2020.

- Xử phạt bị cáo Phạm Tùng L từ 09 tháng đến 01 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/3/2020.

3. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

4.1. Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu của các bị cáo còn lại sau giám định.

4.2. Trả lại ông Phạm Văn T 01 chiếc xe máy nhãn hiệu LONGCIN, màu nâu, biển số đăng ký 17F5 – 3440.

4.3. Trả lại bị cáo Trần Quang H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6Plus, màu vàng trắng; bị cáo T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5, màu vàng trắng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu vàng trắng nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

5. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

6. Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định.

Các bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình đã truy tố. Các bị cáo không tranh luận gì.

Người bào chữa của bị cáo Đỗ Khắc T và bị cáo Phạm Tùng L không tranh luận gì về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hoàn cảnh gia đình để giảm nhẹ hình phạt đối với các bị cáo.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Tùng L không tranh luận gì về tội danh, điều luật áp dụng đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hoàn cảnh gia đình để giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để sớm được trở về với gia đình và xã hội, phấn đấu trở thành công dân tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Bình và của Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình và của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục, đúng thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên toà, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra. Lời khai nhận tội của các bị cáo là chứng cứ để kết tội lẫn nhau và được chứng minh bởi các chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an phường P, thành phố T lập hồi 23 giờ 40 phút ngày 27/3/2020 (bút lục số 07 đến 12); biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Công an phường P, thành phố T lập hồi 01 giờ ngày 28/3/2020 (bút lục số 75); bản kết luận giám định số 112/KLGĐ-PC09 ngày 30/3/2020 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình (bút lục số 82); lời khai của người chứng kiến là anh Nhâm Văn H và ông Lê Đức M (bút lục số 154 đến 163); lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Phạm Văn T (bút lục số 150 đến 151). Cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến, phù hợp với các chứng cứ khác về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 23 giờ 20 phút ngày 27/3/2020, tại khu vực tổ 01, phường P, thành phố T, tỉnh Thái Bình, tổ công tác Công an phường P, thành phố T, tỉnh Thái Bình phát hiện, bắt quả tang bị cáo Trần Quang H đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,2405gam Methamphetamine mục đích để cùng bị cáo Đỗ Khắc T và Phạm Tùng L sử dụng chung. Vì vậy, các bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Điều 249 Bộ luật Hình sự, tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. a) …c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;…5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Xét tính chất mức độ hậu quả của hành vi phạm tội của các bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước ta, đi ngược lại cuộc đấu tranh quyết liệt của Nhà nước và nhân dân ta, nhằm đẩy lùi và loại trừ tội phạm ma tuý ra khỏi đời sống xã hội. Ma tuý đã gây ra những tác hại khôn lường cho sức khoẻ, trí tuệ, nhân cách và nòi giống con người, ma tuý còn gây ra biết bao hiểm hoạ nghiêm trọng khác cho xã hội, là nguồn gốc phát sinh hàng loạt các loại tội phạm, là tác nhân lan truyền đại dịch thế kỷ HIV-AIDS, là yếu tố phá vỡ hạnh phúc biết bao gia đình có người nghiện…Tội phạm mà các bị cáo đã thực hiện là tội phạm nghiêm trọng, vì vậy, Hội đồng xét xử phạt các bị cáo mức án tương xứng với hành vi, phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo. §©y lµ vô ¸n ®ång ph¹m, Héi ®ång xÐt xö cÇn ®¸nh gi¸ vai trß cña tõng bÞ c¸o trong vô ¸n ®Ó c¸ thÓ ho¸ h×nh ph¹t víi c¸c bÞ c¸o nh sau: Bị cáo Đỗ Khắc T là người khởi xướng, rủ rê bị cáo Trần Quang H, bị cáo H rủ bị cáo Phạm Tùng L thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo L bỏ tiền, cả 3 bị cáo đều cùng đi mua ma túy, bị cáo H trực tiếp mua ma túy để sử dụng chung nên 3 bị cáo có vai trò ngang nhau trong vụ án. Với việc đánh giá vai trò của các bị cáo như trên, các bị cáo phải chịu mức hình phạt tương xứng và cần thiết phải áp dụng hình phạt tù giam, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo và góp phần đấu tranh phòng ngừa tội phạm. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Trần Quang H là người trên 18 tuổi nên phải chịu mức hình phạt cao hơn so với bị cáo Đỗ Khắc T và bị cáo Phạm Tùng L là người phạm tội dưới 18 tuổi. Do các bị cáo có việc làm và thu nhập không ổn định, tàng trữ ma túy để sử dụng với khối lượng ít nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thì thấy: Các bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Trần Quang H có nhân thân xấu, đã 01 lần bị xử phạt 04 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, bị cáo Đỗ Khắc T và bị cáo Phạm Tùng L có nhân thân tốt. Trong quá trình điều tra vụ án và tại phiên toà, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nguồn gốc số ma tuý: Bị cáo Trần Quang H khai mua của một người nam giới khoảng 20 tuổi, không biết tên và địa chỉ tại khu vực tổ 04, phường Q, thành phố T nên cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý.

Về vật chứng vụ án:

Số ma tuý thu giữ của các bị cáo được hoàn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự và căn cứ vào điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu LONGCIN, màu nâu, biển kiểm soát 17F5-3440 là tài sản hợp pháp của ông Phạm Văn T (bố đẻ bị cáo Phạm Tùng L), ông T không biết bị cáo L sử dụng xe máy để cùng các bị cáo khác đi mua ma túy nên áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự và căn cứ vào điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần trả lại cho ông T.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6Plus, màu vàng trắng thu giữ của bị cáo H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5, màu vàng trắng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu vàng trắng thu giữ của bị cáo T. Xét thấy những tài sản này không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự và căn cứ vào điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần trả lại cho bị cáo H và bị cáo T nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án đối với 2 bị cáo.

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51; điều 17; điều 50; điều 58; điều 38; điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ vào điều 106; điều 135; điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điều 21; điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án (đối với 3 bị cáo). Áp dụng điều 91; điều 101 Bộ luật Hình sự (đối với bị cáo Đỗ Khắc T và bị cáo Phạm Tùng L).

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Quang H, Đỗ Khắc T, Phạm Tùng L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

2.1. Xử phạt bị cáo Trần Quang H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/3/2020.

2.2. Xử phạt bị cáo Đỗ Khắc T 10 (mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/3/2020.

2.3. Xử phạt bị cáo Phạm Tùng L 10 (mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/3/2020.

3. Về xử lý vật chứng:

3.1. Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu của bị cáo Trần Quang H còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì bên trong có chất ma túy, bên ngoài ghi “số 112/KLGĐ-PC09 mẫu vật hoàn trả sau giám định”.

3.2. Trả lại ông Phạm Văn T, sinh năm 1970; nơi cư trú: Thôn K, xã M, huyện V, tỉnh Thái Bình 01 chiếc xe máy nhãn hiệu LONGCIN, màu nâu, biển kiểm soát 17F5-3440.

3.3. Trả lại bị cáo Trần Quang H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6Plus, màu vàng trắng nhưng giao cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

3.4. Trả lại bị cáo Đỗ Khắc T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5, màu vàng trắng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu vàng trắng nhưng giao cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

(Vật chứng nêu trên Cơ quan điều tra đã chuyển sang Chi cục thi hành án dân sự thành phố T ngày 01/6/2020).

4. Về án phí: Các bị cáo Trần Quang H, Đỗ Khắc T và Phạm Tùng L mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 7, 7a, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Tùng L, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 30/6/2020.

Cỡ chữ