- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Đậu Duy V phạm Tội trộm cắp tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM THÀNH PHỐ HÀ NỘI. ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 81/2020/HS-ST Ngày 22 - 6 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà: Thái Thị Hà Thu
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà: Nguyễn Thị Chấn
Bà: Nguyễn Thị Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà: Nguyễn Thị Thiện Phúc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm tham gia phiên tòa: Ông: Phùng Xuân Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 71/TLST-HS, ngày 28 tháng 5 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2019/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đậu Duy V, sinh năm 1985 tại Sơn La; Đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Xóm X, Tiểu khu 1X, thị trấn Hát L, huyện Mai SƠn, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ V hóa (học vấn): 12/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Con ông Đậu Duy B, sinh năm 1956 và bà Dương Thị Minh, sinh năm 1953; Vợ: Lò Thị T; Con: có 02 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Theo trích lục tiền án, tiền sự số 2511375/PV06, ngày 10/4/2020 của Phòng hồ sơ – Công an thành phố Hà nội thì bị cáo không có tiền án, tiền sự; Bị cáo khởi tố tại ngoại, được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay. (Có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại: Công ty cổ phần cơ điện T. V N
Địa chỉ trụ sở: tầng X, Lô 1X, căn nhà vườn O1X-HHX, khu đô thị mới Tây Hồ Tây, xứ Đồng Cày Máy, phường Xuân La, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội.
Ủy quyền cho: Anh Trịnh V Q, sinh năm 1993 (Giấy ủy quyền ngày 30/4/2020). (Vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ, ngày 07/12/2019, tại xã Đa Tốn, Gia Lâm, Đậu Duy V gặp một thanh niên tên Lìn người ở Yên Bái, Lìn rủ V đi mua ma túy về sử dụng nhưng V nói không có tiền. Lìn rủ V vào công trường Vincity Gia Lâm trộm cắp ống đồng của máy điều hòa bán lấy tiền mua ma túy. Sau đó, V và Lìn đỗ xe máy phía dưới của Tòa nhà rồi đi lên các tầng của Tòa nhà để tìm ống đồng. Phát hiện tầng 17, 24, 25 của Tòa nhà có ống đồng, V và Lìn đã dùng tay bẻ gãy các ống đồng của điều hòa được lắp sẵn rồi bẻ gập lại cho vào ba l ô màu xanh mang theo. Sau khi trộm cắp được, V chở Lìn bằng xe máy đi ra đến gần cổng bảo vệ số C6 để đi ra ngoài thì Lìn xuống đi bộ ra hướng khác còn V điều khiển xe ra đến cổng C6 thì bị bảo vệ công trường phát hiện bắt giữ. Sau đó anh Trịnh V Q đại diện cho nhà thầu đang thi công lắp đặt điều hòa tại Tòa nhà P19 của công trường Vincity Gia Lâm đã làm đơn trình báo cơ quan Công an về việc đơn vị thi công bị mất tài sản có giá trị ước khoảng 3.500.000 đồng.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 ba lô bằng vải màu xanh; 01 xe máy kiểu dáng Honda Wave RS, màu xanh đen, BKS: 29Z6-1267; 09 đoạn ống đồng phi 6, tổng chiều dài 29,6m; 09 đoạn ống đồng phi 8, tổng chiều dài 24,4m; 04 đoạn ống đồng phi 10, tổng chiều dài 12m; 04 đoạn ống đồng phi 12, tổng chiều dài 13,2m.
Tại kết luận định giá tài sản số 165/KL-HĐĐG của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Gia Lâm kết luận: 09 đoạn ống đồng phi 6, tổng chiều dài 29,6m có giá trị 740.000 đồng (25.000 đồng/m x 29,6m); 09 đoạn ống đồng phi 8, tổng chiều dài 24,4m có giá trị 732.000 đồng (30.000 đồng/m x 24,4m); 04 đoạn ống đồng phi 10, tổng chiều dài 12m có giá trị 420.000 đồng (35.000 đồng/m x 12m); 04 đoạn ống đồng phi 12, tổng chiều dài 13,2m có giá trị 594.000 đồng (45.000 đồng/m x 13,2m).
Tại bản cáo trạng số 73/CT-VKSGL, ngày 25/5/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Đậu Duy V về Tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà: Bị cáo Đậu Duy V khai nhận về hành vi mà bị cáo đã thực hiện như đã khai nhận tại cơ quan điều tra. Bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo khai năm 2016, bị cáo có cai nghiện tại nhà 03 tháng và từ đó đến nay, bị cáo không phải là đối tượng nghiện ma túy. Đối với chiếc ba lô đã thu giữ, bị cáo khai nhặt ở đống rác nên đã rách nát.
Bị hại là Công ty cổ phần cơ điện T. V N, đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng là anh Trịnh V Quyền vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt.
Về trách nhiệm dân sự: Công ty cổ phần cơ điện T. V N đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì.
Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội để cùng vợ nuôi dạy con cái.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm trình bày luận tội, giữ nguyên nội dung Bản cáo trạng đã truy tố, trên cơ sở xem xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i,s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Đậu Duy V phạm tội Trộm cắp tài sản. Đề nghị xử phạt bị cáo Đậu Duy V từ 06 tháng đến 08 tháng tù cho hưởng án treo, thời hạn thử thách từ 12 tháng đến 16 tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo về UBND thị trấn Hát Lót, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.
Về hình phạt bổ sung: do bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: không
Về vật chứng: tịch thu tiêu hủy 01 ba lô thu giữ của bị cáo do liên quan đến hành vi phạm tội nhưng không còn giá trị sử dụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Gia Lâm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về tội danh và tình tiết định khung hình phạt: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp lời khai của người làm chứng và vật chứng thu giữ được cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ khẳng định: Sáng ngày 08/12/2019, tại công trường Vincity Gia Lâm, Đậu Duy V lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản đã lén lút chiếm đoạt 09 đoạn ống đồng phi 6, tổng chiều dài 29,6m; 09 đoạn ống đồng phi 8, tổng chiều dài 24,4m; 04 đoạn ống đồng phi 10, tổng chiều dài 12m; 04 đoạn ống đồng phi 12, tổng chiều dài 13,2m của Công ty cổ phần cơ điện T. V N. Tổng giá trị tài sản mà Đậu Duy V chiếm đoạt là 2.486.000 đồng. Như vậy, có đủ có đủ cơ sở kết luận bị cáo Đậu Duy V phạm “Tội trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 173, khoản 1 của Bộ luật hình sự.
Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm truy tố bị cáo Đậu Duy V là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
. Về hình phạt và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự an toàn xã hội.
Về nhân thân bị cáo: Theo Công an thị trấn Hát Lót, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La nơi bị cáo cư trú cung cấp: năm 2016, Công an thị trấn lập hồ sơ giáo dục quản lý tại xã, phường thị trấn do sử dụng trái phép chất ma túy. Tại phiên tòa, bị cáo khai năm 2016 có tự nguyện cai nghiện tại nhà trong thời gian 03 tháng, đến nay bị cáo không nghiện ma túy. Việc bị cáo cai nghiện tại cộng đồng từ năm 2016 đến nay đã lâu, đã nằm ngoài thời hiệu nên được coi không có tiền sự. Hội đồng xét xử thấy, bị cáo không có tình tiết tăng nặng và có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải; tài sản đã thu hồi trả cho bị hại. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội cũng đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.
. Mức hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm đề nghị áp dụng đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo.
. Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử thấy bị cáo không có thu nhập và nghề nghiệp ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về bồi thường dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự nên HĐXX không xem xét giải quyết.
. Đối với đối tượng tên Lìn mà bị cáo khai nhận cùng tham gia trộm cắp tài sản cùng bị cáo nhưng bị cáo không biết rõ nhân thân nên cơ quan Công an không có căn cứ xác minh, điều tra làm rõ.
. Đối với chiếc xe máy kiểu dáng Honda Wave RS, màu xanh đen, BKS: 29Z6-1267, qua xác minh là của chị Trần Lệ T, sinh năm 1983, có hộ khẩu thường trú tại số 13, ngõ 544, Nguyễn V Cừ, Gia Thuy, Long Biên, Hà Nội. Chị Thu cho anh Phạm Đình H mượn để làm phương tiện đi lại, anh H cho anh Phạm Thế D là người làm cùng Công ty bê tông Minh T trong công trường Vincity mượn. Sáng 08/12/2019, V mượn xe của anh D nhưng anh D không biết V sử dụng xe máy để làm phương tiện trộm cắp tài sản nên cơ quan điều tra đã không xử lý đối với anh D và trả lại chiếc xe máy này cho chủ sở hữu là chị Trần Lệ T đã đúng quy định của pháp luật.
. Về xử lý vật chứng: 01 ba lô bằng vải màu xanh thu giữ của bị cáo, bị cáo khai nhặt ở đống rác trong khu Vincity cho tịch thu tiêu hủy do liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nhưng không còn giá trị sử dụng.
. Về án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo: bị cáo Đậu Duy V có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: khoản 1 Điều 173; điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự;
Căn cứ vào các Điều: 331, 332, 333, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án.
Tuyên bố: bị cáo Đậu Duy V phạm Tội trộm cắp tài sản.
Xử phạt: Đậu Duy V 07 (bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo V về Ủy ban nhân dân thị trấn Hát Lót, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Bị cáo V thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, bị cáo Đậu Duy V cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về hình phạt bổ sung: không áp dụng đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 ba lô bằng vải màu xanh đã qua sử dụng. Vật chứng này hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Gia Lâm, theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 28/5/2020.
Về án phí: Bị cáo Đậu Duy V phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo Đậu Duy V có mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại - Công ty cổ phần cơ điện T. V N vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết đinh được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.
| Nơi nhận: - Bị cáo - VKSND huyện Gia Lâm - Tòa án nhân dân TP. Hà Nội - Công an huyện Gia Lâm - Chi cục THADS huyện Gia Lâm - Sở tư pháp TP. Hà Nội - UBND TT Hát Lót, Mai Sơn, Sơn La (thay cho thông báo kết quả xét xử); - Lưu: hồ sơ vụ án | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Thị Hà Thu |