- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Minh Q phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 107 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 81/2019/HS-ST Ngày 20/9/2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Cơ Dũng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Như Nguyệt – Cán bộ Hội Liên hiệp Phụ nữ Quận 11
2. Ông Nguyễn Thanh Tịnh – Cán bộ Phòng Giáo dục và Đào tạo Quận 11
- Thư ký phiên tòa: Bà Vương Thanh Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 11
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:
Ông Đỗ Hoàng Hảo - Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 9 năm 2019 tại Phòng xử A, trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 68/2019/TLST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2019/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 25/2019/HSST-QĐ ngày 05 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo:
Lê Minh Q; sinh ngày 20/8/2001, tại Thành phố Hồ Chí Minh (tính đến ngày xét xử, bị cáo 18 năm 01 tháng tuổi); nơi cư trú: Hộ khẩu thường trú: xx Đoàn Văn Bơ, Phường x, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh. Chỗ ở: xxx Đoàn Văn Bơ, Phường x, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Minh Đ và bà Lưu Gia L; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/4/2019 đến ngày 09/4/2019 thay đổi bị pháp ngăn chặn, cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Em Nguyễn Đông H, sinh ngày 19/6/2007; nơi cư trú: x Phó Cơ Điều, Phường x, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt tại phiên tòa.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Nguyễn Thị Mai L, sinh năm 1970, là mẹ của em Nguyễn Đông H; địa chỉ: x Phó Cơ Điều, Phường x, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa: Ông Nguyễn Khắc Hiếu – Luật sư thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ: 470 Nguyễn Trị Phương, Phường 9, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng: Ông Đặng Thiên P, sinh năm 1992; địa chỉ: xx Nguyễn Thiện Thuật, Phường x, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng: Bà Đỗ Thị Bảo V, sinh năm 1995; địa chỉ: x Minh Phụng, Phường x, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 11 giờ 15 phút ngày 06/4/2019, đối tượng Lê Minh Q đến siêu thị Lotte Mart, Phường 15, Quận 11 chơi. Khi đến lầu 4 của siêu thị, Q trông thấy em Nguyễn Đông H (sinh ngày 19/6/2007; nơi cư trú: x Phó Cơ Điều, Phường x, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh) đang đi với bạn; em H đang sử dụng điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J4 Plus nên Q nảy sinh ý định chiếm đoạt điện thoại của em H để bán lấy tiền tiêu xài. Đối tượng Q đi bộ từ phía sau lên, dùng tay phải giật chiếc điện thoại của em H rồi bỏ chạy theo hướng thang bộ để xuống đất. Lúc này, em H tri hô và đuổi theo Q. Cùng lúc, các bảo vệ của siêu thị trông thấy sự việc nên đuổi theo đến trước nhà số 957 Đường 3/2, Phường 7, Quận 11 thì bắt giữ được đối tượng Q cùng vật chứng giao cho Công an Phường 15, Quận 11 lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, chuyển giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 xử lý.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 46/KLĐGTS ngày 12/6/2019, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận 11 kết luận: “Hội đồng nhất trí giá trị điện thoại di động Samsung Galaxy J4 Plus (đã qua sử dụng), tại thời điểm ngày 06/4/2019 là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng)” (BL 23).
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra điều tra Công an Quận 11, bị can Lê Minh Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Vật chứng của vụ án gồm có:
- Một USB có ghi dữ liệu hình ảnh bị can Lê Minh Q thực hiện hành vi cướp giật tài sản vào ngày 06/4/2019 tại siêu thị Lotte Mart, Phường 15, Quận 11, đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 lập biên bản thu giữ và kiểm tra hình ảnh, đưa vào hồ sơ vụ án (BL 40-41).
- Một chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J4 Plus là tài sản của em Nguyễn Đông H. Công an Phường 15, Quận 11 đã lập biên bản trả lại tài sản cho em Nguyễn Đông H (BL 39).
- Một điện thoại di động hiệu Xiaomi màu đồng là tài sản của bị can Lê Minh Q.
- Một áo thun màu xám, một quần Jean màu xanh và một nón kết màu trắng là tài sản cá nhân của bị can Lê Minh Q mặc khi thực hiện hành vi cướp giật tài sản.
Về dân sự: Bị hại là em Nguyễn Đông H đã nhận lại chiếc điện thoại di động bị chiếm đoạt và không có yêu cầu bồi thường gì khác (BL 39, 61).
Tại Bản cáo trạng số 69/CT-VKSQ11 ngày 23/7/2019, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 truy tố bị can Lê Minh Q tội danh “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm g Khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Minh Q có lời khai phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra và những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Bị hại là em Nguyễn Đông H và người đại diện hợp pháp của bị hại là bà Nguyễn Thị Mai L có đơn xin từ chối người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp ngày 11/4/2019, vắng mặt tại phiên tòa và không có yêu cầu bồi thường gì khác.
Người làm chứng là ông Đặng Thiên P và bà Đỗ Thị Bảo V vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai tại Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Quận 11.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 trình bày lời luận tội, đề nghị xử phạt bị cáo Lê Minh Q từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù; đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa trình bày lời bào chữa cho bị cáo, nêu các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo như: Bị cáo không có ý định phạm tội ngay từ đầu; hành vi của bị cáo là bộc phát, nhất thời, không có chủ động trước; lúc phạm tội thì bị cáo chưa thành niên nên có nhận thức không đầy đủ; tài sản đã được thu hồi trả lại cho bị hại; bị cáo thành khẩn khai báo nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s Khoản 1 Điều 51; áp dụng Điều 91 và Khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời bào chữa của người bào chữa, lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Vào lúc 11 giờ 15 phút ngày 06/4/2019, tại lầu 4 của Siêu thị Lotte Mart, Phường 15, Quận 11, bị cáo Lê Minh Q đã có hành vi dùng tay phải nhanh chóng, bất ngờ chiếm đoạt chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J4 Plus của em Nguyễn Đông H.
Tài sản bị chiếm đoạt là chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J4 Plus đã qua sử dụng, có giá trị là 2.000.000 đồng.
Bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản nhằm mục đích bán lấy tiền tiêu xài.
Hành vi của bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” được quy định tại Điều 171 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết định khung hình phạt:
Bị cáo phạm tội đối với em Nguyễn Đông H (sinh năm 2007) là người dưới 16 tuổi nên thuộc trường hợp “Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi” được quy định tại điểm g Khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.
Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, tài sản đã được thu hồi trả lại cho bị hại nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về việc xem xét nguyên tắc xử lý đối với bị cáo phạm tội khi dưới 18 tuổi:
Tại thời điểm phạm tội là ngày 06/4/2019, bị cáo Lê Minh Q được 17 năm 7 tháng 17 ngày tuổi.
Bị cáo bị truy tố tội “Cướp giật tài sản” theo điểm g Khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt từ 03 năm tù đến 10 năm tù nên thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 9 Bộ luật Hình sự. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Lê Minh Q là người từ đủ 16 tuổi nên phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Khoản 1 Điều 12 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an xã hội. Bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi, biết rõ hành vi của mình là phạm tội nhưng vẫn cố ý thực hiện. Căn cứ vào Khoản 6 Điều 91 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo để trừng trị và giáo dục bị cáo, đồng thời cũng nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa chung.
Bị cáo Lê Minh Q thực hiện hành vi phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên Hội đồng xét xử chấp nhận lời bào chữa của người bào chữa, áp dụng Điều 91 và Khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự, khi quyết định hình phạt thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng đối với bị cáo là không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định.
Về xem xét các ý kiến khác của người bào chữa:
Bị cáo bị xét xử về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm g Khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt từ 03 năm tù đến 10 năm tù nên thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 9 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, khi phạm tội bị cáo là người chưa đủ 18 tuổi nên người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các quy định tại Điều 91 và Điều 101 để xem xét cho bị cáo. Hội đồng xét xử chấp nhận lời bào chữa của người bào chữa về việc đề nghị áp dụng Điều 91 và Điều 101 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:
Về xử lý vật chứng:
- Một USB có ghi dữ liệu hình ảnh bị cáo Lê Minh Q thực hiện hành vi cướp giật tài sản vào ngày 06/4/2019 tại siêu thị Lotte Mart, Phường 15, Quận 11, đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 lập biên bản thu giữ và kiểm tra hình ảnh, đưa vào hồ sơ vụ án. Căn cứ Khoản 2 Điều 107 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 xử lý lưu vào hồ sơ vụ án là đúng quy định của pháp luật.
- Vật chứng là một chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J4 Plus là tài sản của em Nguyễn Đông H. Công an Phường 15, Quận 11 đã lập biên bản trả lại tài sản cho em Nguyễn Đông H. Căn cứ điểm a Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy Công an Phường 15, Quận 11 đã xử lý vật chứng đúng quy định nên không xem xét lại.
- Vật chứng là một điện thoại di động hiệu Xiaomi màu đồng là tài sản của bị cáo Lê Minh Q. Bị cáo không sử dụng tài sản này vào việc phạm tội. Căn cứ điểm a Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử giải quyết trả lại cho bị cáo.
- Vật chứng là một áo thun màu xám, một quần Jean màu xanh và một nón kết màu trắng là tài sản cá nhân của bị cáo Lê Minh Q mặc khi thực hiện hành vi cướp giật tài sản. Đây là tài sản không còn giá trị sử dụng; bị cáo không đồng ý nhận lại tài sản. Căn cứ điểm c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử giải quyết tịch thu tiêu hủy.
Về dân sự: Bị hại là em Nguyễn Đông H đã nhận lại chiếc điện thoại di động bị chiếm đoạt và không có yêu cầu bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Lê Minh Q, điều tra viên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 được phân công điều tra, kiểm sát giải quyết vụ án đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận, nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo, người bào chữa và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của điều tra viên, kiểm sát viên. Do đó, có cơ sở để xác định hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.
Về án phí:
Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 50; điểm g Khoản 2 Điều 171; điểm h, s Khoản 1 Điều 51; Khoản 6 Điều 91; Khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Lê Minh Q;
Tuyên bố bị cáo Lê Minh Q phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Xử phạt bị cáo Lê Minh Q 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt để thi hành án. Thời gian bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/4/2019 đến ngày 09/4/2019 được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù.
Căn cứ Điều 107 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Lưu vào hồ sơ vụ án vật chứng là một USB có ghi dữ liệu hình ảnh bị cáo Lê Minh Q thực hiện hành vi cướp giật tài sản vào ngày 06/4/2019 tại siêu thị Lotte Mart, Phường 15, Quận 11.
Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Trả lại cho bị cáo Lê Minh Q một điện thoại di động hiệu Xiaomi màu đồng (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 45/LNK ngày 19/4/2019 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11).
Tịch thu tiêu hủy một áo thun màu xám, một quần Jean màu xanh và một nón kết màu trắng (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 45/LNK ngày 19/4/2019 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11).
Căn cứ vào Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Bị cáo Lê Minh Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.
Người bào chữa có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại chưa thành niên vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - TAND - VKSND TPHCM; - Sở Tư pháp TPHCM; - PC 27 - CA TPHCM; - VKSND Q.11; - Công an Q.11; - Chi cục THADS Q.11; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Cơ Dũng |