- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Tá D - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Võ Tá D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG TỈNH NGHỆ AN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 81/2019/HS-ST Ngày 17 - 9 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG – TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Hồng Thể
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Nhàn
Ông Nguyễn Văn Đương
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Kỳ
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Thùy Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 80/2019/TLST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2019/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo:
Võ Tá D - sinh ngày 10/7/1991 tại huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Tên gọi khác: không; Nơi cư trú: xóm R, xã C, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Tá Đ và bà Nguyễn Thị S; vợ Trần Thị Q (sinh năm 1991) và chưa có con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/6/2019 đến ngày 11/7/2019 được tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
1. Chị Đinh Thị D - sinh năm 1986
Địa chỉ: xóm T, xã GT, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.
Vắng mặt tại phiên tòa.
2. Anh Nguyễn Văn H – sinh năm 1987
Địa chỉ: xóm B, xã GT, huyện Đô Lương, Nghệ An.
Có mặt tại phiên tòa.
3. Anh Hoàng Văn N – sinh năm 1987
Địa chỉ: xóm T, xã GT, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.
Vắng mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: chị Trần Thị Q – sinh năm 1991
Địa chỉ: xóm R, xã C, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.
Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 01 giờ 40 phút ngày 06/6/2019, tổ tuần tra Công an xã GT, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An đang tuần tra trên đường thì phát hiện có 2 thanh niên đi xe moto có biểu hiện hoạt động tội phạm nên đã yêu cầu dừng xe kiểm tra hành chính. Hai thanh niên xuống xe bỏ chạy, để lại chiếc moto BKS 37P1-57113 và đăng ký xe moto, 03 con chó có tổng trọng lượng 40kg, 01 vòng do bắt chó có cán màu đen gắn với dây điện màu xanh đến bình ắc quy kích điện được bỏ trong 1 túi màu nâu, 01 chiếc kiếm bằng kim loại, 01 bình xịt hơi cay màu đen, 01 biển số xe 37N1-36069, 01 điện thoại di động hiệu Nokia đã qua sử dụng. Lực lượng công an và quần chúng nhân dân đã tiến hành truy đuổi và bắt được 01 đối tượng khai tên là Võ Tá D. Tổ tuần tra đưa D và các tang vật về trụ sở Công an xã GT lập biên bản, lấy lời khai và cùng ngày đã giao đối tượng cùng một số tang vật thu giữ được cho Công an huyện Đô Lương xử lý theo thẩm quyền.
Quá trình điều tra, Võ Tá D khai nhận:
Chiều ngày 05/6/2019, Nguyễn Hữu Thọ (cư trú tại xã Thượng Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An) gọi điện vào máy điện thoại Nokia màu đen của D rủ đi bắt trộm chó và cả hai hẹn gặp nhau tại đồng Bà Bầy (thuộc xã Mỹ Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An) vào lúc 12 giờ đêm. Trước khi đi, D chuẩn bị 01 bình xịt hơi cay, 01 cuộn băng dính và mang theo 1 số vật dụng của Thọ gửi là 01 thanh kiếm, 01 vòng do bắt chó nối vào 01 bộ kích điện đến bình ắcquy bỏ vào bao tải, 01 biển số xe giả 37N1-360.69 (để ốp vào trước biển số 37P1-571.13 của xe môtô nhãn hiệu Yamaha Sirius - xe của vợ D là chị Trần Thị Q). Đến điểm hẹn gặp nhau, Thọ điều khiển xe môtô còn D ngồi phía sau. Cả hai đi dọc Quốc lộ 7 đến địa phận xóm T, xã GT, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An thì phát hiện 01 con chó lông màu vàng (thuộc quyền sở hữu của chị Đinh Thị D). Thọ điều khiển xe ép sát con chó, D dùng vòng do ngoắc vào cổ chó và bấm kích điện giật chó ngất rồi kéo lên xe, quấn băng dính vào mõm chó rồi bỏ vào bao tải. Cả hai tiếp tục đi và với hành động tương tự, Thọ và D đã bắt thêm được 02 con chó vện thuộc quyền sở hữu của anh Nguyễn Văn H và của anh Hoàng Văn N trước khi bị phát hiện, bắt giữ.
Theo kết quả định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự UBND huyện Đô Lương kết luận: 03 con chó có trọng lượng 40kg trị giá 2.200.000 đồng.
Ngày 06/6/2019, Công an xã GT đã trả lại 3 con chó cho chị D, anh H, anh N. Ngày 17/7/2019, Võ Tá D bồi thường thiệt hại cho chị D thêm 840.000 đồng.
Ngày 13/8/2019, Cơ quan điều tra Công an huyện Đô Lương đã giao vật chứng gồm 01 thanh kiếm, 01 bình xịt hơi cay, 01 vòng do bắt chó nối vào 01 bộ kích điện đến bình ắcquy, 01 biển số xe giả 37N1-360.69, 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen và xe môtô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số 37P1-571.13 màu đen tới Chi cục thi hành án dân sự huyện Đô Lương bảo quản.
Ngày 09/6/2019, cơ quan điều tra tiến hành xác minh đối tượng Nguyễn Hữu Thọ nhưng Thọ hiện không có mặt tại địa phương và đang bị truy nã theo Lệnh truy nã của Công an huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An.
Tại bản cáo trạng số 83/CT-VKS-HS ngày 12/8/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo thừa nhận đã trộm cắp 03 con chó của anh H, anh N và chị D. Bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho chị D 840.000 đồng. Ông nội bị cáo Võ Văn Điền là người có công với cách mạng được tặng thưởng Huy chương hạng Nhì và xin giảm nhẹ hình phạt.
- Bị hại chị Đinh Thị D, anh Hoàng Văn N vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra có lời khai thừa nhận nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì về thiệt hại dân sự. Anh Nguyễn Văn H có mặt tại phiên tòa không yêu cầu bồi thường gì về phần dân sự và không đề xuất gì về hình phạt đối với bị cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử đề nghị: giữ nguyên việc truy tố bị cáo Võ Tá D phạm tội “Trộm cắp tài sản”; đề nghị áp dụng khoản 1 điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách từ 12 đến 18 tháng; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử lý vật chứng: tịch tiêu hủy 01 thanh kiếm, 01 bình xịt hơi cay, 01 vòng do bắt chó, 01 bộ kích điện đến bình ắcquy, 01 biển số xe giả 37N1-360.69; tịch thu sung quỹ 01 điện thoại di động hiệu Nokia; trả lại chiếc xe môtô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số 37P1-571.13 cho chị Trần Thị Q.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:
- Trong quá trình điều tra: Điều tra viên được phân công điều tra đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng về việc kiểm tra, xác minh, lập hồ sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm; lập hồ sơ vụ án; hỏi cung bị can; giao nhận các văn bản tố tụng đúng thời hạn.
- Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Kiểm sát viên đã thực hiện nghiêm túc hoạt động kiểm sát điều tra; tham gia phiên tòa đúng thời gian, địa điểm; công bố bản cáo trạng; tham gia xét hỏi, luận tội, tranh luận và phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án đồng thời thực hiện việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án cũng như người tham gia tố tụng trong giai đoạn xét xử.
Do các hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đều tuân thủ quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên hợp pháp và được sử dụng làm chứng cứ để Hội đồng xét xử xem xét.
Về nội dung: rạng sáng ngày 06/6/2019, tại xã GT, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An, Võ Tá D đã lén lút liên tiếp thực hiện các hành vi chiếm đoạt tài sản là 3 con chó của chị Đinh Thị D, anh Nguyễn Văn H, anh Hoàng Văn N. Tài sản bị chiếm đoạt có tổng trọng lượng là 40kg, trị giá 2.200.000 đồng. Hành vi của bị cáo D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật Hình sự. Do vậy Viện kiểm sát huyện Đô Lương truy tố đối với bị cáo là có cơ sở và được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội ở mức độ không lớn, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an trên địa bàn huyện Đô Lương, gây bức xúc cho quần chúng nhân dân. Mặc dù trị giá tài sản chiếm đoạt nhỏ nhưng cũng cần xử lý nghiêm khắc, kịp thời nhằm răn đe, phòng ngừa tái phạm.
Tuy nhiên cũng cần xem xét, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên toà khai báo thành khẩn; phạm tội gây thiệt hại không lớn (là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, h, i, s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự). Ông nội bị cáo là người có công với cách mạng được tặng thưởng Huy chương chiến công hạng Nhì (là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự). Bị cáo học vấn thấp nên nhận thức kém, trước khi thực hiện tội phạm có nhân thân tốt, cư trú rõ ràng nên Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự, cho cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát giáo dục của chính quyền địa phương là đủ nghiêm.
Về hình phạt bổ sung: xét bị cáo không có tài sản và thu nhập ổn định nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về dân sự: các bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về vật chứng:
03 con chó đã được trả lại cho chủ sở hữu là đúng pháp luật.
Đối với các công cụ phạm tội và công cụ hỗ trợ gồm 01 thanh kiếm, 01 bình xịt hơi cay, 01 vòng do bắt chó, 01 bộ kích điện đến bình ắcquy, 01 biển số xe giả 37N1-360.69 không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với công cụ liên lạc thực hiện hành vi phạm tội là chiếc điện thoại di động hiệu Nokia màu đen thu giữ của bị cáo D cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
Chiếc xe môtô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số 37P1-571.13 là phương tiện phạm tội thuộc quyền sở hữu của chị Trần Thị Q nhưng do chị Q không biết bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội nên cần trả lại cho chị Q kèm theo Giấy chứng nhận đăng ký môtô.
Về vấn đề khác: theo lời khai của bị cáo D thì Nguyễn Hữu Thọ cũng tham gia tích cực vào hành vi phạm tội nhưng do Thọ không có mặt tại địa phương, đang bỏ trốn theo Lệnh truy nã của Công an huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An nên khi nào bắt được sẽ xử lý sau.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 và điểm b khoản 3 Điều 106, Khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Võ Tá D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Võ Tá D 08 (Tám) tháng tù nhưng được hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm 04 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị cáo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã C trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật thi hành án hình sự.
- Về biện pháp tư pháp:
Tịch thu tiêu hủy 01 thanh kiếm, 01 bình xịt hơi cay, 01 vòng do bắt chó, 01 bộ kích điện nối đến bình ắcquy, 01 biển số xe giả 37N1-360.69.
Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen đã qua sử dụng.
Trả lại chiếc xe môtô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số 37P1-571.13 cho chị Trần Thị Q.
(Các vật chứng trên đang được bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đô Lương theo Biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 13/8/2019).
Trả lại 01 Giấy chứng nhận đăng ký môtô cho chị Trần Thị Q hiện đang lưu trong hồ sơ vụ án.
- Về án phí: Bị cáo Võ Tá D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Bị cáo; bị hại - VKSND huyện Đô Lương; - VKSND tỉnh Nghệ An; - CQĐT Công an huyện Đô Lương; - CQTHAHS huyện Đô Lương; - Trại TG CA tỉnh Nghệ An; - CCTHADS huyện Đô Lương; - Lưu HS, VP | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Thị Hồng Thể |