vanban.org

Bản án 81/2019/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 29/10/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 29/10/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn c vào điểm b khoản 1 Điều 355, các điểm b, c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tuyên chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Phạm Trường T và sửa bản án hình sự sơ thẩm số 31/2019/HS-ST ngày 30 tháng 7 năm 2019 của Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh Vĩnh Long. Xử phạt bị cáo Phạm Trường T (Cu Đỏ) 01 (một) năm tù, về tội Trộm cắp tài sản . Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Trường T trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Căn c vào điểm b khoản 1 Điều 355, các điểm b, c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 81/2019/HS-PT
Ngày: 29-10-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thành Tân

Các Thẩm phán:

Bà Nguyễn Thị Tư

Ông Triệu Quốc Hiếu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thu Nguyệt – Thư ký của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Châu - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 109/2019/TLPT-HS, ngày 12 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo Phạm Trường T, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 31/2019/HS-ST ngày 30 tháng 7 năm 2019 của Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh Vĩnh Long.

Bị cáo kháng cáo:

Phạm Trường T (tên gọi khác: C), sinh năm 1986; tại Vĩnh Long. Nơi cư trú: Tổ 02, khóm 2, phường T, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Thành T và bà Trần Thị S; có vợ Nguyễn Thị Ngọc Lvà 02 người con (lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2019); tiền án,tiền sự: không; bị cáo đang bị tạm giam trong một vụ án khác, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra, còn có 02 bị cáo Nguyễn Văn A, Trần Quốc B, không liên quan đến kháng cáo, nên cấp phúc thẩm không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Quốc B và Phạm Trường T là bạn nghiện ma túy với nhau. Do không có tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng nên đã rủ nhau đi lấy trộm tài sản của người khác.

Vào khoảng 19 giờ ngày 16 01 2019, Phạm Trường T đi t nhà đến tiệm game T o ở phường Thành Phước, thị xã Bình Minh thì gặp Trần Quốc B, rồi B rủ T đi tìm tài sản của người khác lấy trộm nhưng lúc này cả hai chưa đi.

Đến khoảng 19 giờ ngày 19 01 2019, Tđiều khiển xe mô tô biển số 64H6-2364 của T đến tiệm game T o gặp B, T rủ B đi tìm tài sản của người khác lấy trộm thì B đồng ý. Lúc này T mới nói là: Để T chạy về nhà rồi trở lại c ng đi lấy trộm thì B đồng ý và ở tiệm của T o đợi. Tvề nhà thì thấy xe mô tô biển số 67D1-227.60 của chị Hu nh Thị Qu nh N (ở gần nhà T), dựng ngoài đường h m ngay trước nhà N mà không có ai trông coi, nên Thọ nảy sinh ý định lấy trộm xe này. Tđi trở lại tiệm game gặp B nói cho B biết là có chiếc xe của N dựng ở gần nhà T và rủ B lấy chiếc xe này, thì B đồng ý. T chạy xe chở B đến đầu h m vào nhà T thì B xuống xe đợi, còn T thì đem xe về để xe ở trước cửa nhà, rồi T đi lại lấy trộm chiếc xe của N, họ b t dây max xe rồi đạp xe nổ máy chạy ra đưa cho B. B chạy xe v a lấy trộm của N đến nhà của Lê Minh H (tự là: Lưu Bị) ở tổ 04, khóm 4, phường C, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long. Còn T thì về lấy xe chạy qua nhà của H tìm B. Khi B chạy xe qua nhà H thì H đang ngồi nhậu trong nhà, sau đó T cũng đến, nên B c ng với T d n xe v a lấy trộm ra phía sau nhà H cất giấu. Do sợ bị người khác phát hiện, nên T kêu B tháo biển số xe ra, rồi gắn biển số xe khác vào xe của N, còn biển số xe của N thì B giấu ở phía sau nhà T. Sau khi đổi biển số xong, B điện thoại cho Lê Đông N hỏi người mua xe, thì N cho B số điện thoại của S ở Trà Vinh, rồi B điện thoại cho S h n địa điểm mua bán xe. H n xong, B kêu T đi bán xe nhưng T không đi, nên B vào rủ H đi c ng. B chạy xe v a lấy trộm của N chở H đến Trà Vinh, bán chiếc xe của N cho S với giá 2.800.000 đồng, bán xong thì cả hai đi xe đò về nhà hết 300.000 đồng, B đưa cho H 100.000 đồng và chia cho T 600.000 đồng. Còn lại 1.800.000 đồng thì B tiêu xài cá nhân và mua ma tuý sử dụng hết.

Căn c vào kết luận định giá tài sản số: 24 KL.Đ TS ngày 28 01 2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã B kết luận: chi c e m t i n s

D -

của ch Huỳnh Th uỳnh N B và T l y tr m c giá tr l 9 585

đồng

Tại Bản án hình sự sơ thẩm s : 31/2019/HS-ST ngày 30 tháng 7 năm

9 của Tòa án nhân th ã B, tỉnh Vĩnh Long đã quy t đ nh:

Tuyên bố Bị cáo Phạm Trường T phạm tội Trộm cắp tài sản .

Căn c vào điểm a khoản 2 Điều 173, Điều 17, Điều 58, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Phạm Trường T 02 (hai) năm t . Thời hạn chấp hành hình phạt t tính t ngày bắt Bị cáo đi thi hành án.

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Phạm Trường T.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn xử phạt hai bị cáo Nguyễn Văn A, Trần Quốc B, mỗi bị cáo 02 năm 06 tháng t ; quyết định về bồi thường thiệt hại, xử lý vật ch ng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày13/8/2019, bị cáo Phạm Trường T và bị cáo Trần Quốc B có đơn kháng cáo với cùng nội dung: xin giảm nh hình phạt.

Ngày 19/9/2019, bị cáo Trần Quốc B có văn bản xin rút toàn bộ kháng cáo.

Đến ngày 14 tháng 10 năm 2019 Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long đã ra có Thông báo số 39 2019 TB-TA về việc bị cáo Trần Quốc B đã rút toàn bộ kháng cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm Kiểm sát viên, bị cáo trình bày như sau:

Đại diện Viện Ki m sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long phát i u quan đi m giải quy t vụ án: cấp sơ thẩm xét xử bị cáo tội trộm cắp tài sản là có căn c , nhưng bị cáo phạm tội là đồng phạm giản đơn, nên việc cấp sơ thẩm áp dụng điểm a khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo là không có căn c . Hòan cảnh gia đình bị cáo quá khó khăn, nhưng bị cáo đã có nộp 300.000 đồng khắc phục hậu quả cho bị hại, nên cần xem xét giảm nh hình phạt cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo, xử phạt bị cáo T t 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng t .

B cáo trình y: bị cáo và bị cáo B chỉ có thực hiện 01 vụ trộm xe của chị N, giữa bị cáo và bị cáo B không có phân công vai trò khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.

B cáo n i lời sau cùng: bị cáo xin được giảm nh hình phạt để sớm trở về lo cho vợ con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phạm Trường T đã th a nhận hành vi phạm tội của mình là hoàn toàn ph hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, ph hợp với kết luận giám định, cùng những tài liệu, ch ng c có trong hồ sơ vụ án đã được thu thập và thẩm tra tại phiên tòa. Bị cáo xác định vào khoảng 19 giờ ngày 19 01 2019, bị cáo và bị cáo B đã lấy trộm 01 xe mô tô biển số 67D1-227.60 của chị N. Do đó, cấp sơ thẩm quy kết bị cáo Phạm Trường T phạm vào tội “Tr m cắp t i sản” theo Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn c , đúng người, đúng tội.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo Phạm Trường T là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác một cách trái pháp luật, đồng thời ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận th c được hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vì động cơ vụ lợi cho bản thân, thích hưởng thụ, lười lao động, nên thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện sự xem thường pháp luật của bị cáo. Do đó, đối với bị cáo cũng cần phải xử lý đúng m c, tương x ng với tính chất, m c độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện, nhằm giáo dục riêng bị cáo trở thành công dân hữu ích và phòng ng a chung trong xã hội.

Tuy nhiên, việc cấp sơ thẩm xác định bị cáo phạm tội thuộc trường hợp có tổ ch c theo điểm a khỏan 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, là chưa có cơ sở vững chắc; bởi lẽ: vào tối ngày 19 01 2019, T đến tiệm game T gặp rồi rủ B tìm tài sản của người khác lấy trộm thì B đồng ý. Thọ về nhà thì thấy xe mô tô biển số 67D1-227.60 của chị Hu nh Thị Qu nh N, đậu ngoài đường h m ngay trước nhà N mà không có ai trông coi, nên Thọ nảy sinh ý định lấy trộm xe này. T đi trở lại tiệm game chở B đến đầu h m vào nhà T thì B xuống xe đợi, còn T thì đem xe về để xe ở trước cửa nhà, rồi T đi lại lấy trộm chiếc xe của N ra đưa cho B. B chạy xe v a lấy trộm của N đến nhà của Lê Minh H ở tổ 04, khóm 4, phường C, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long. B chạy xe v a lấy trộm của N chở H đến Trà Vinh, bán cho S với giá 2.800.000 đồng, B đưa cho H 100.000 đồng và chia cho T 600.000 đồng. Còn lại 1.800.000 đồng thì B tiêu xài cá nhân và mua ma tuý sử dụng hết. Như vậy, bị cáo T chỉ có c ng với bị cáo B thực hiện một vụ trộm, vụ này bị cáo T rủ bị cáo B trộm, bị cáo T trực tiếp thực hiện lấy xe, còn bị cáo B đ ng ở đầu đ ơng đợi, nên đây là vụ án có đồng phạm nhưng không có sự câu kết chặt chẽ giữa bị cáo T và bị cáo B, mà chỉ đồng phạm có tính chất giản đơn. D hoàn cảnh quá khó khăn nhưng bị cáo cũng cố gắng nộp 300.000 đồng để khắc phục hậu quả, nên cần áp dụng điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là tình tiết giảm nh cho bị cáo.

Quyết định của bản án sơ thẩm về áp dụng khung hình phạt và m c hình phạt là chưa có căn c pháp luật. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy có căn c để chấp nhận kháng cáo của bị cáo và sửa án sơ thẩm cho đúng quy định của pháp luật.

Xét bị cáo đang bị tạm giam trong vụ án khác mà chưa có bản án có hiệu pháp luật, nên thời hạn chấp hành phạt được tính t ngày chấp hành hình phạt của bản án này.

Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên về việc chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo là có cơ sở nên được chấp nhận.

Về án phí hình sự phúc thẩm: do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩn theo quy định.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể t ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn c vào điểm b khoản 1 Điều 355, các điểm b, c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tuyên chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Phạm Trường T và sửa bản án hình sự sơ thẩm số 31/2019/HS-ST ngày 30 tháng 7 năm 2019 của Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh Vĩnh Long.

Áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 17, Điều 58, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Phạm Trường T (Cu Đỏ) 01 (một) năm tù, về tội Trộm cắp tài sản .

Thời hạn chấp hành hình phạt t của bị cáo được tính t ngày chấp hành hình phạt của bản án này.

Các phần khác của bản án sơ thẩm về xử lý vật ch ng, bồi thường thiệt hại, án phí không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể t ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể t ngày tuyên án.

Cỡ chữ