vanban.org

Bản án 81/2019/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 13/03/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 13/03/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thanh T phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 81/2019/HS-PT
Ngày: 13-3-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử ph c thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Khắc Thịnh

Các Thẩm phán: Ông Đinh Chí T

Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Nhựt Minh - Th ký Tòa án nhân dân t nh Đ ng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Nên - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 3 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân t nh Đ ng Tháp mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự ph c th m thụ lý số: 48/2019/TLPT-HS ngày 11 tháng 01 năm 2019 đối v i bị cáo Trần Thanh T. Do có kháng cáo c a bị cáo đối v i Bản án hình sự s th m số: 35/2018/HS-ST ngày 30 tháng 11 năm 2018 c a Tòa án nhân dân huyện T.

- Bị cáo có kháng cáo:

Trần Thanh T, sinh năm 1980; N i sinh: Sóc Trăng; N i c tr : Ấp Hòa T, xã H, huyện K, t nh S; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Gi i tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T1, sinh năm 19XX và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 19XX; có vợ Nguyễn Thị T2, sinh năm 19XX (ly hôn 2017) và có 02 ng ời con, l n sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2014; Tiền án: Ngày 02/11/2000, bị Tòa án nhân dân huyện K, t nh S xử phạt 04 tháng 12 ngày tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”; (Ngày 05/11/2018, bị cáo T m i nộp xong phần án phí c a bản án); Tiền sự: Không; Tạm giữ ngày 27/10/2018; Tạm giam ngày 29/10/2018. Hiện đang bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an t nh Đ ng Tháp, có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra, trong vụ án còn có người bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị.

NỘI DUNG V ÁN:

Theo các tài liệu c trong h sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được t m t t như sau:

Do không có ph ng tiện đi lại nên Trần Thanh T nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô c a ông Trần Văn T3. Khoảng 07 giờ ngày 28/8/2018, bị cáo T đến hỏi m ợn xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Future, màu s n đỏ đen, biển số kiểm soát 66N1 - 126.69 c a ông T3, nói đi bắt gà, ông T3 đ ng ý. T điều khiển xe đến khúc vắng chỗ ao nuôi cá gần Công ty Hoàng Long r i dùng cây vít mang theo để mở mặt nạ xe, nối dây mát khởi động xe đ ợc mà không cần dùng chìa khóa r i lắp mặt nạ vào nh ban đầu.

Chu n bị xong, T điều khiển xe về trả lại cho ông T3 r i đi thành phố Cần Th để thuê phòng trọ và tìm n i xin việc. Sau đó, T đón xe đò đi về lại nhà ở ấp A, xã Ph C ờng, huyện Tam Nông. Khi đến thành phố Cao Lãnh, t nh Đ ng Tháp thì bị cáo điện thoại cho ông T3 r lại nhà ông Lê Vũ Hùng (tự Ba Lòng Tong), c tr ấp A, xã Ph C ờng, huyện Tam Nông, t nh Đ ng Tháp) để uống r ợu, lúc này khoảng 16 giờ cùng ngày. Mục đích bị cáo r ông T3 lại nhà ông Hùng nhậu là để tạo điều kiện trộm xe c a ông T3.

Đến khoảng 18 giờ 15 phút ngày 28/8/2018, bị cáo T chạy xe đạp đến bên hông cầu Kênh Cầu Sắt, đậu xe bên trong đ ờng mòn r i đi bộ lại nhà ông Hùng. Do l c đó trời tối, bị cáo T nhìn vào bên trong thấy ông T3 và ông Hùng đang ng i và không thể quan sát đ ợc chỗ đậu xe nên bị cáo T lén lút dẫn xe c a ông T3 lên đ ờng r i nối dây mát đạp xe nổ máy chạy lại chỗ xe đạp bị cáo đậu tr c đó, cất giấu xe mô tô vừa trộm đ ợc xong, bị cáo m i chạy xe đạp lại nhà ông Hùng và vào uống r ợu chung v i ông Hùng và ông T3. Uống r ợu đ ợc khoảng h n 30 phút thì ông T3 nghĩ và ra về thì phát hiện xe bị mất nên ông T3 truy hô. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, bị cáo điều khiển xe c a ông T3 chạy thẳng về thành phố Cần Th và cất giấu xe trong phòng trọ.

Đến ngày 26/10/2018, bị cáo T bị Công an ph ờng H ng Ph , quận Cái Răng, thành phố Cần Th phát hiện bắt giữ và bàn giao h s cùng đối t ợng cho Công an huyện T giải quyết.

Vật chứng thu giữ g m:

- 01 xe môtô, nhãn hiệu HONDA, loại xe FUTURE, màu s n: Đỏ- Đen, số khung 5334DY025649; số máy: JC53E1025423, biển số kiểm soát 66N1 – 126.XX, đã qua sử dụng; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô tên ch sở hữu Trần Văn T3; 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Trần Văn T3, sinh năm 1982.

- 01 điện thoại di động hiệu NOKIA 105, màu đen, số sê ri: 35696709264 7171, có gắn 02 sim điện thoại (01 sim mạng Mobiphone và 01 sim mạng Viettel) nh ng không kiểm tra đ ợc số sim.

- 01 đèn flash gắn cho xe mô tô, phía trên có chữ “clearwater LIGHTS”.

Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 28/BKLĐG ngày 29/10/2018 c a Hội đ ng định giá th ờng xuyên tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, kết luận: xe môtô, nhãn hiệu HONDA, loại xe FUTURE, màu s n: Đỏ- Đen, số khung 5334DY025649; số máy: JC53E1025423, biển số kiểm soát 66N1 – 126.XX, đã qua sử dụng có giá trị là 16.600.000đ ng.

Tại bản án số 35/2018/HS-ST ngày 30/11/2018 c a Tòa án nhân dân huyện T đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Trần Thanh T phạm tội “Trộm c p tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 c a Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Thanh T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/10/2018.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về ử lý vật ch ng, án ph và quyền kháng cáo theo luật định.

Đến ngày 04 tháng 12 năm 2018, bị cáo Trần Thanh T có đ n kháng cáo v i nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân t nh Đ ng Tháp phát biểu quan điểm: Hành vi c a bị cáo Trần Thanh T bị Tòa án cấp s th m quy kết về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đ ng ng ời, đ ng tội và đ ng quy định c a pháp luật. Xét mức hình phạt 01 năm 06 tháng tù mà Tòa án cấp s th m tuyên là phù hợp v i tính chất, mức độ do hành vi phạm tội c a bị cáo gây ra. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nh ng không cung cấp chứng cứ gì m i. Do đó, đề nghị Hội đ ng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt c a bị cáo Trần Thanh T, giữ nguyên phần Quyết định c a bản án s th m về hình phạt đối v i bị cáo.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không tranh luận mà ch xin giảm nhẹ hình phạt để bị cáo s m trở về v i gia đình nuôi hai con nhỏ và bà ngoại đã ngoài 80 tuổi.

NH N Đ NH CỦA T A ÁN:

Trên c sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong h s vụ án đã đ ợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đ ng xét xử nhận định nh sau:

[1] Tại phiên tòa, bị cáo Trần Thanh T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội c a mình. Lời khai nhận tội c a bị cáo phù hợp v i lời khai c a bị cáo tại c quan điều tra cũng nh tại phiên tòa s th m, phù hợp v i lời khai c a ng ời bị hại, ng ời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, ng ời làm chứng cùng các chứng cứ trong h s vụ án, đ c sở để xác định: Khoảng 18 giờ 15 phút ngày 28 tháng 8 năm 2018, lợi dụng lúc ông Trần Văn T3 đang ng i uống r ợu không thể quan sát đ ợc chổ đậu xe, Trần Thanh T đã lén l t lấy xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Future, màu s n đỏ đen, biển số kiểm soát 66N1 - 126.XX c a ông T3, có giá trị là 16.600.000 đ ng.

[2] Hội đ ng xét xử xét thấy hành vi c a bị cáo Trần Thanh T là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến tài sản thuộc sở hữu c a ng ời khác một cách trái pháp luật. Hành vi đó đã gây xôn xao d luận, gây hoang mang trong d luận quần ch ng nhân dân, làm ảnh h ởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa ph ng n i xảy ra vụ án. Bị cáo là đối t ợng đã có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” ch a đ ợc xóa án tích. L ra, sau khi chấp hành xong hình phạt tù trở về địa ph ng, bị cáo phải chí th làm ăn l ng thiện để tạo ra c a cải vật chất nuôi sống bản thân và gia đình, nh ng bị cáo không làm đ ợc điều này mà vẫn chứng nào tật ấy. Ch vì bản tính tham lam muốn có ph ng tiện để đi lại, phục vụ nhu cầu c a bản thân nên bị cáo đã có hành vi phạm tội nh đã nêu trên. Bị cáo thừa biết việc thực hiện hành vi trộm cắp tài sản c a ng ời khác là vi phạm pháp luật, là có tội nh ng bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Chứng tỏ bị cáo xem th ờng kỷ c ng pháp luật. Do bị cáo đã có tiền án về tội trộm cắp tài sản ch a đ ợc xóa án tích, lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội và trong vụ án này bị cáo lấy trộm tài sản có giá trị là 16.600.000 đ ng nên ngoài trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản, bị cáo còn phải chịu trách nhiệm hình sự v i tình tiết tăng nặng là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[3] Tòa án cấp s th m đã xét xử bị cáo Trần Thanh T về tội “Trộm c p tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đ ng ng ời, đ ng tội. Mức hình phạt mà án s th m đã tuyên đối v i bị cáo là hoàn toàn phù hợp v i tính chất, mức độ nguy hiểm c a hành vi phạm tội do bị cáo gây ra và đã cân nhắc, xem xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối v i bị cáo. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt v i lý do bị cáo là lao động chính duy nhất trong gia đình có hoàn cảnh khó khăn về kinh tế để nuôi hai con còn nhỏ.

Xét thấy, trong quá trình điều tra cũng nh tại các phiên tòa s th m, phúc th m bị cáo T đã thành kh n khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Tài sản bị mất cũng đã thu h i trả lại cho ng ời bị hại xong, ng ời bị hại có đ n xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Về nhân thân, bị cáo xuất thân là thành phần nhân dân lao động, là lao động chính duy nhất trong gia đình có hoàn cảnh khó khăn về kinh tế để nuôi hai con còn nhỏ. Gia đình bị cáo có công v i Cách mạng, ông ngoại c a bị cáo là liệt sĩ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định c a pháp luật.

[4] Xét đề nghị c a vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối v i bị cáo T là ch a phù hợp pháp luật, nên không chấp nhận.

[5] Do kháng cáo c a bị cáo đ ợc chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc th m theo luật định.

Các phần khác c a quyết định bản án s th m không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT Đ NH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 c a Bộ luật tố tụng hình sự.

Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt c a bị cáo Trần Thanh T. Sửa phần quyết định về hình phạt c a bản án hình sự s th m.

Tuyên bố bị cáo Trần Thanh T phạm tội “Trộm c p tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 c a Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Thanh T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/10/2018.

Về án phí: Bị cáo Trần Thanh T không phải chịu án phí hình sự ph c th m.

Các phần khác c a quyết định bản án s th m không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án ph c th m có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG T

H C TH M

TTM. H I Đ NG X T X PH C TH M

Cỡ chữ