vanban.org

Bản án 81/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho ông Trịnh Tấn Kh được ly hôn với bà Lưu Kim Y.

Về con chung: Giao 02 người con chung tên Trịnh Ngọc Yến V, sinh ngày 29/7/2008 và Trịnh Minh Q, sinh ngày 26/6/2014 cho bà Lưu Kim Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm thời ông Trịnh Tấn Kh không phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "BA - LH - Khương - Yến - T10-2019"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho ông Trịnh Tấn Kh được ly hôn với bà Lưu Kim Y.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẢNG BOM
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 81/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 17-10-2019.
V/v: “Tranh chấp ly hôn,
nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Bá Đức.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đặng Quang Hoạch.

2. Ông Tạ Văn Đài.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Đoàn Bích Thu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà: Ông Đinh Ngọc Mạnh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 580/2019/TLST- HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2019 về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 9 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 118/2019/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Trịnh Tấn Kh, sinh năm 1985.

Trú tại: Khu 2, ấp AH, xã TH, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

2. Bị đơn: Bà Lưu Kim Y, sinh năm 1982.

Trú tai: 112A/1 ấp NH, xã TH, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

(Ông Kh và bà Y vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn ông Trịnh Tấn Kh trình bày:

Ông Kh và bà Lưu Kim Y tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau năm 2008 tại UBND xã VT, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre. Quá trình chung sống thường xảy ra mâu thuẫn trong vấn đề tình cảm, lối sống, tính cách không phù hợp. Nay tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nên ông Kh xin ly hôn với bà Y.

Về con chung: Ông bà có 02 người con chung tên Trịnh Ngọc Yến V, sinh ngày 29/7/2008 và Trịnh Minh Q, sinh ngày 26/6/2014. Ly hôn, ông Kh đồng ý để bà Y trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng hai con chung và ông Kh cấp dưỡng nuôi hai con chung 3.000.000đồng/tháng.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Quá trình tố tụng tại Tòa án, bị đơn bà Lưu Kim Y trình bày:

Bà Y và ông Trịnh Tấn Kh tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau năm 2008 tại UBND xã VT, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre. Quá trình chung sống ban đầu rất hạnh phúc nhưng đến tháng 3/2019 thì phát sinh mâu thuẫn do ông Kh có người phụ nữ khác bên ngoài. Nay ông Kh xin ly hôn thì bà Y không đồng ý vì bà Y còn thương chồng, thương con, không muốn ảnh Kh đến con cái và bà Y là người Công giáo, luật đạo nghiêm cấm việc ly hôn.

Về con chung: Ông bà có 02 người con chung tên Trịnh Ngọc Yến V, sinh ngày 29/7/2008 và Trịnh Minh Q, sinh ngày 26/6/2014. Trong trường hợp Tòa án giải quyết ly hôn, bà Yến xin được nuôi hai con chung và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án được tiến hành theo quy định pháp luật. Đối với việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của ông Trịnh Tấn Kh. Cho ông Kh được ly hôn với bà Lưu Kim Y.

Về con chung: Giao 02 người con chung tên Trịnh Ngọc Yến V, sinh ngày 29/7/2008 và Trịnh Minh Q, sinh ngày 26/6/2014 cho bà Lưu Kim Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Do bà Y không yêu cầu nên tạm thời ông Kh không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Các bên không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: Các đương sự khai không có nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016 buộc ông Kh phải nộp án phí ly hôn theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng:

1.1. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong vụ án, yêu cầu khởi kiện và quy định pháp luật, “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” thuộc trường hợp quy định tại Điều 28; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự nên Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom thực hiện thủ tục thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền.

1.2. Ông Trịnh Tấn Kh và bà Lưu Kim Y có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án đưa vụ án ra xét xử.

. Về quan hệ hôn nhân: Ông Trịnh Tấn Kh và bà Lưu Kim Y tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau vào năm 2008 và được Ủy ban nhân dân xã VT, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre cấp giấy chứng nhận kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp.

Ông Kh, bà Y xác định vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn từ tháng 3/2019 nhưng bà Yến không đồng ý ly hôn vì bà Y là người Công giáo, luật đạo nghiêm cấm việc ly hôn và không muốn ảnh Kh đến con cái. Xét thấy, vợ chồng ông Kh, bà Y không còn ở chung với nhau, không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc trong gia đình nên tình trạng hôn nhân giữa ông Kh, bà Y đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, ông Kh xin ly hôn với bà Y là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Về con chung: Ông Kh, bà Yến có 02 người con chung tên Trịnh Ngọc Yến V, sinh ngày 29/7/2008 và Trịnh Minh Q, sinh ngày 26/6/2014. Căn cứ vào ý kiến của ông Kh, bà Yến cũng như ý kiến của các con, Hội đồng xét xử xét thấy giao các cháu V và Q cho bà Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp.

. Về cấp dưỡng nuôi con: Do bà Y không yêu cầu cấp dưỡng nên tạm thời ông Kh không phải đóng góp cho bà Y tiền cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông Trịnh Tấn Kh có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng nuôi con.

. Về tài sản chung: Các bên không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: Các đương sự khai không có nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

. Về quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

. Về án phí: Ông Kh phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 203, Điều 220, Điều 227, Điều 228, Điều 264, Điều 266, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội khóa 14.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho ông Trịnh Tấn Kh được ly hôn với bà Lưu Kim Y.

2. Về con chung: Giao 02 người con chung tên Trịnh Ngọc Yến V, sinh ngày 29/7/2008 và Trịnh Minh Q, sinh ngày 26/6/2014 cho bà Lưu Kim Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm thời ông Trịnh Tấn Kh không phải cấp dưỡng nuôi con.

Ông Trịnh Tấn Kh có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng nuôi con.

4. Về án phí: Ông Trịnh Tấn Kh phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tại biên lai thu số 0006978 ngày 08/8/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom. Ông Kh đã nộp đủ án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ