vanban.org

Bản án 81/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Mỹ T.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Mỹ T và anh Võ Quốc K được ly hôn. Về con chung: Giao trẻ Võ Thị Ngọc D, sinh ngày 13/3/2008 cho chị Trần Thị Mỹ T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trẻ tròn 18 tuổi. Anh Khởi chưa phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Mỹ T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 81/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 12 - 11 - 2019
V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Phước Đại

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Đại Thắng

2. Ông Nguyễn Văn Trương

- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Hoài Ẩn – Thẩm tra viên của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 270/2019/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2019 về việc ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 10 năm 2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trần Thị Mỹ T, sinh năm 1988 (có mặt)

Trú tại: ấp T, thị trấn N, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.

Bị đơn: Anh Võ Quốc K, sinh năm 1984 (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Trú tại: ấp Tân H, thị trấn N, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và các lời khai có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày:

Chị Trần Thị Mỹ T và anh Võ Quốc K tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn N và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 24/10/2007. Vợ chồng chung sống một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, chị và anh K không còn thương yêu nhau, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Vợ chồng có 01 con chung là Võ Thị Ngọc D, sinh ngày 13/3/2008. Hiện cháu D đang sống với chị T. Về tài sản chung, nợ chung không có. Chị T yêu cầu ly hôn; về con chung chị T yêu cầu Toà án giải quyết theo nguyện vọng của con; Tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu.

Đối với bị đơn anh Võ Quốc K có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt ngày 14/10/2019.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Về phần thủ tục từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo trình tự tố tụng. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, về con chung giao trẻ Võ Thị Ngọc D, sinh ngày 13/3/2008 cho chị Trần Thị Mỹ T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trẻ tròn 18 tuổi. Anh K chưa phải cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung, nợ chung không có, về án phí nguyên đơn phải nộp theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Xét về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa bị đơn anh Võ Quốc K vắng mặt nhưng anh Khởi có đơn yêu cầu giải quyết vụ án vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử là đúng theo quy định pháp luật.

Chị T và anh K có đăng ký kết hôn năm 2007 tại Ủy ban nhân dân thị trấn N. Quá trình chung sống giữa chị T và anh K phát sinh nhiều mâu thuẫn, anh chị không còn sống chung với nhau, vợ chồng không còn thương yêu chăm sóc lẫn nhau, cho thấy mục đích hôn nhân không đạt được. Tại tòa chị T giữ nguyên yêu cầu ly hôn nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Trần Thị Mỹ T và anh Võ Quốc K được ly hôn.

Chị T và anh K có 01 con chung tên Võ Thị Ngọc D, sinh ngày 13/3/2008, theo nguyện vọng của cháu Diễm là muốn sống trực tiếp với chị T và chị T yêu cầu được nuôi con nên Hội đồng xét xử giao trẻ cho chị T trực tiếp nuôi con là phù hợp. Chị T không yêu cầu cấp dưỡng nên không xem xét trong vụ án này.

Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị T phải nộp 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 53, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Mỹ T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Mỹ T và anh Võ Quốc K được ly hôn.

2. Về con chung: Giao trẻ Võ Thị Ngọc D, sinh ngày 13/3/2008 cho chị Trần Thị Mỹ T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trẻ tròn 18 tuổi. Anh Khởi chưa phải cấp dưỡng nuôi con.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con chung, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

4. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Trần Thị Mỹ T phải chịu 300.000 đồng. Chuyển 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp theo biên lai số 0001266 ngày 01/10/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành thành án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Chị T đã nộp đủ.

6. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ