- Tranh chấp gì? án hành chính — "Bà Nguyễn Thị T kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đ2 và Ủy ban nhân dân huyện Đ1 về việc Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nạ…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Nguyễn Thị T, sửa bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 116 Luật Tố tụng hành chính; Điều 193 Luật Tố tụng hành chính; Điều 241 Luật Tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CÂP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 809/2022/HC-PT Ngày 26 – 9 – 2022 V/v “Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trí Tuấn;
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn Minh
Ông Phan Nhựt Bình
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Anh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mậu Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 19&26 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 404/2022/TLPT-HC ngày 26 tháng 7 năm 2022 về việc về việc “Khiếu kiện giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai”.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 05/2022/HC-ST ngày 12 tháng 5 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 306/2022/QĐPT-HC ngày 22 tháng 2 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị T; địa chỉ: Tổ dân phố 6, thị trấn Đ, huyện Đ1, tỉnh Đ2- Có mặt
2. Người bị kiện:
2.1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đ2 (Vắng mặt).
2.2. Ủy ban nhân dân huyện Đ1
Đại diện theo ủy quyền: Ông Võ Quốc T; chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ1- Văn bản ủy quyền ngày 10-12-2021- Có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ban quản lý dự án và phát triển quỹ đất huyện Đ1
Đại diện theo pháp luật: Ông Trần Văn Q– Giám đốc Ban quản lý dự án và phát triển quỹ đất huyện Đ1 - Có mặt.
- Người kháng cáo: Người khởi kiện – bà Nguyễn Thị T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện ngày 25-10-2021 và trong quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện bà Nguyễn Thị T trình bày:
Ngày 07-10-2019 Uỷ ban nhân dân (UBND) huyện Đ1 ban hành thông báo số 138/TB-UBND về việc T hồi đất để xây dựng dự án công trình đường vành đai phía Đông huyện Đ1.
Ngày 15-6-2020 UBND huyện Đ1 ban hành quyết định số 567/QĐ-UBND về việc T hồi 578,8m2 đất trồng cây lâu năm, Tộc thửa số 14, tờ bản đồ số 13 và thửa số 7 tờ bản đồ số 14 của gia đình bà Nguyễn Thị T.
Ngày 15-6-2020 UBND huyện Đ1 ban hành Quyết định số 569/QĐ-UBND về việc phê duyệt bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng dự án công trình đường vành đai phía Đông huyện Đ1; trong đó, bồi thường, hỗ trợ cho gia đình bà T với tổng số tiền 39.282.000đ nhưng bà T không đồng ý với lý do xác định sai thời điểm năm cây trồng và áp dụng giá tấm đan mương thoát nước trên đất không đúng và nhiều lần có đơn kiến nghị, khiếu nại.
Ngày 04-12-2020, Ủy ban nhân dân huyện Đ1ban hành công văn số 5479/UBND-BQL về việc điều chỉnh vị trí cửa xả tại km 1 + 622.09 và tim đường Tộc công trình đường vành đai phía Đông huyện Đắk Song, theo sự điều chỉnh vị trí cửa xả không còn ở vị trí đất của bà Nguyễn Thị T mà chuyển sang vị trí đất của gia đình ông Nguyễn Văn T(Liền kề đất của bà T).
Ngày 11-12-2020 UBND huyện Đ1 ban hành quyết định số 1698/QĐ-UBND về việc T hồi quyết định số 567/QĐ-UBND ngày 15-6-2020 của UBND huyện Đ1 về việc T hồi 578.8m2 đất của bà Nguyễn Thị T để xây dựng dự án Đường vành đai phía Đông huyện Đ1 với lý do T hồi: Diện tích tim đường và vị trí cửa xả không ảnh hưởng đến đất của gia đình bà T và ban hành quyết định số 1699/QĐ-UBND về việc điều chỉnh một phần Quyết định số 569/QĐ-UBND ngày 15-6-2020 về việc huỷ bỏ số tiền bồi thường của bà Nguyễn Thị T tại số thứ tự 115, mục 1 phụ lục kèm theo.
Không đồng ý với quyết định số 1698/QĐ-UBND về việc huỷ bỏ quyết định T hồi đất và Quyết định số 1699/UBND-QĐ về việc huỷ bỏ số tiền bồi thường đối với gia đình, bà Nguyễn Thị T làm đơn khiếu nại đến UBND huyện Đ1.
Ngày 15-3-2021 Chủ tịch UBND huyện Đ1 ban hành quyết định số 367/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại lần đầu, nội dung không chấp nhận khiếu nại của bà Nguyễn Thị T. Không đồng ý, bà T tiếp tục khiếu nại lần 02 đến Chủ tịch UBND tỉnh Đ2.
Ngày 06-08-2021 Chủ tịch UBND tỉnh Đ2 ban hành Quyết định số 1166/QĐ-UBND ngày 06-8-2021 về việc giải quyết khiếu nại lần 02, nội dung công nhận nội dung khiếu nại của bà Nguyễn Thị T và tại Điều 2 của Quyết định giải quyết khiếu nại lần 2 quyết định: “Giao cho UBND huyện Đ1 hỗ trợ phần thiệt hại cho bà Nguyễn Thị T do thực tế quá trình T hồi đất diễn ra làm hạn chế quyền sử dụng đất, giảm nguồn T, tài sản gắn liền với đất bị ảnh hưởng, thiệt hại. Trường hợp không đồng với mức hỗ trợ thiệt hại, bà Nguyễn Thị T có quyền yêu cầu Toà án giải quyết theo thẩm quyền”
Sau khi nhận được Quyết định số 1166/QĐ-UBND ngày 06-8-2021 của Chủ tịch UBND tỉnh Đ2 về việc giải quyết khiếu nại lần 2, bà Nguyễn Thị T vẫn không đồng ý với Điều 2 của Quyết định vì không nêu rõ số tiền UBND huyện Đ1 phải bồi thường cho gia đình bà T cụ thể bao nhiêu, dẫn đến việc khó thi hành. Do đó ngày 25-10-2021 bà T khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết các nội dung sau:
- Huỷ Điều 2 tại phần quyết định của Quyết định số 1166/QĐ-UBND ngày 02-8-2021 của Chủ tịch UBND tỉnh Đ2 về việc giải quyết khiếu nại lần 2 đối với gia đình bà Nguyễn Thị T.
- Buộc UBND huyện Đ1 phải bồi thường thiệt hại cho gia đình bà Nguyễn Thị T số tiền 300.000.000đ.
2. Ý kiến của ông Lê Trọng Y; chức vụ Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Đ2– Người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện Chủ tịch UBND tỉnh Đ2:
Bà Nguyễn Thị T khiếu nại đối với 02 Quyết định hành chính của UBND huyện Đ1, gồm: Quyết định số 1698/QĐ-UBND ngày 11-12-2020 về việc T hồi quyết định số 567/QĐ-UBND ngày 15-6-2020 của UBND huyện Đ1 về việc T hồi 578.8m2 đất của bà T để xây dựng dự án Đường vành đai phía Đông huyện Đ1 và Quyết định số 1699/QĐ-UBND ngày 11-12-2020 về việc điều chỉnh một phần Quyết định số 569/QĐ-UBND ngày 15-6-2020 của UBND huyện Đ1về việc huỷ bỏ số tiền bồi thường của bà T tại số thứ tự 115, mục 1 phụ lục kèm theo.
Nội dung khiếu nại của bà T được Chủ tịch UBND huyện Đ1 giải quyết lần đầu tại Quyết định số 367/QĐ-UBND ngày 15-3-2021 nội dung không chấp nhận khiếu nại của bà T. Không đồng ý, bà T tiếp tục khiếu nại lần 02 đến Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Đ2.
Quá trình giải quyết đơn khiếu nại lần 02 của bà T, Chủ tịch UBND tỉnh Đ2nhận thấy: Công trình đường vành đai phía Đông huyện Đ1 được UBND tỉnh giao Ban quản lý dự án và Phát triển quỹ đất huyện Đ1 làm Chủ đầu tư tại Quyết định số 1749/QĐ-UBND ngày 31-10-2017. Quá trình triển khai dự án, Chủ đầu tư đã phối hợp với gia đình bà T nhiều lần kiểm đếm cây trồng và chiều dài tấm đan thoát nước trên đất của bà T nhưng sau nhiều lần kiểm đếm vẫn chưa xác định được năm cây trồng để làm cơ sở bồi thường và bà T không thống nhất về giá bồi thường chiều dài mương thoát nước nên nhiều lần kiến nghị, khiếu nại, chưa bàn giao đất cho Chủ đầu tư để thực hiện dự án.
Để bảm bảo thời gian, đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng thực hiện dự án, ngày 04-12-2020 UBND huyện Đ1đã ban hành công văn số 5479/UBND-BQL về việc điều chỉnh vị trí cửa xả tại km 1 + 622.09 và tim đường Tộc công trình đường vành đai phía Đông huyện Đắk Song, theo sự điều chỉnh vị trí cửa xả không còn ở vị trí đất của bà T mà chuyển sang đất của gia đình ông Nguyễn Văn Tnên không phải T hồi đất của gia đình bà T.
Tuy nhiên, trên thực tế, việc T hồi đất của bàT có diễn ra, từ thời điểm kiểm kê tài sản tháng 10-2019 đến khi UBND huyện Đ1 ban hành Quyết định số 1698/QĐ-UBND ngày 11-12-2020 về việc T hồi quyết định số 567/QĐ-UBND ngày 15-6-2020 của UBND huyện Đ1 về việc T hồi 578.8m2 đất của bà T là đã hơn 01 năm. Quá trình thực hiện T hồi đất, gia đình bà T bị hạn chế quyền sử dụng đất, mất nguồn T, mương thoát nước bị đất dồn lại, cây cối hoa màu trên đất không còn. Nguyên nhân khách quan từ việc để qua một mùa mưa, chờ bồi thường, hỗ trợ nên mương thoát nước không được bảo dưỡng, bị đất dồn lại, hư hỏng; nguyên nhân chủ quan từ phía Cơ quan nhà nước kiểm kê thiếu chặt chẽ, không kịp thời kiểm đếm lại và người bị T hồi đất bà T khi chưa thống nhất số liệu, sau 17 ngày từ ngày kiểm kê lần đầu đã chặt bỏ cây trồng trên đất nên không có cơ sở xác định lại năm cây trồng.
Do đó nội dung khiếu nại của bà Nguyễn Thị T đối với Quyết định số 1698/QĐ-UBND về việc T hồi quyết định T hồi đất và Quyết định số 1699/QĐ-UBND về việc huỷ bỏ số tiền bồi thường của bà Nguyễn Thị T nêu trên là có căn cứ, đã ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của gia đình bà Nguyễn Thị T. Vì vậy, Chủ tịch UBND tỉnh Đ2đã ban hành quyết định số 1166/QĐ-UBND ngày 06-8-2021 giải quyết khiếu nại lần 02, nội dung công nhận nội dung khiếu nại của bà Nguyễn Thị T, đồng thời tại Điều 2 của Quyết định giải quyết khiếu nại lần 2 quyết định: “Giao cho UBND huyện Đ1 hỗ trợ phần thiệt hại cho bà Nguyễn Thị T do thực tế quá trình T hồi đất diễn ra làm hạn chế quyền sử dụng đất, giảm nguồn T, tài sản gắn liền với đất bị ảnh hưởng, thiệt hại. Trường hợp không đồng với mức hỗ trợ thiệt hại, bà Nguyễn Thị T có quyền yêu cầu Toà án giải quyết theo thẩm quyền”
3. Ý kiến của ông Võ Quốc T – Người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện UBND huyện Đ1:
Việc bà T khiếu nại Quyết định số 1698/QĐ-UBND về việc T hồi quyết định số 567/QĐ-UBND ngày 15-6-2020 của UBND huyện Đ1 về việc T hồi 578.8m2 đất của bà T để xây dựng dự án Đường vành đai phía Đông huyện Đ1 và Quyết định số 1699/QĐ-UBND về việc điều chỉnh một phần Quyết định số 569/QĐ-UBND ngày 15-6-2020 về việc huỷ bỏ số tiền bồi thường của bà T tại số thứ tự 115, mục 1 phụ lục kèm theo, đã được giải quyết khiếu nại lần 02 bằng Quyết định số 1166/QĐ-UBND ngày 06-8-2021 của Chủ tịch UBND tỉnh Đ2.
Thực hiện Điều 2 của Quyết định số 1166/QĐ-UBND ngày 06-8-2021, UBND huyện Đ1đã giao Ban quản lý dự án và Phát triển quỹ đất huyện Đ1tham mưu UBND huyện lập phương án hỗ trợ cho bà T theo đúng quy định của pháp luật. Quá trình xem xét hỗ trợ, Ban quản lý dự án và Phát triển quỹ đất huyện Đ1có dự kiến hỗ trợ như sau: Về tài sản, vật kiến trúc trên đất: Không T hồi đất nên không áp dụng bồi thường. Về cây cối hoa màu: Đối với cây cối hoa màu ảnh hưởng hạn chế nguồn T bao gồm tiêu và sầu riêng ghép tính hỗ trợ 50% giá trị cây tiêu, sầu riêng theo quy định với tổng kinh phí 50.000.000đ.
Ngày 10-9-2021 Ban quản lý dự án và Phát triển quỹ đất huyện Đ1đã mời bà T làm việc để đối thoại về số tiền hỗ trợ; tại buổi làm việc bà T không đồng ý với dự kiến phương án hỗ trợ của Ban quản lý dự án và Phát triển quỹ đất huyện Đắk Song. Ngày 10-9-2021 Ban quản lý dự án đã ban hành báo cáo số 192/BC-BQL đề nghị UBND huyện Đ1xem xét và có ý kiến chỉ đạo về phương án hỗ trợ đối với bà Nguyễn Thị T.
4. Ý kiến của ông Trần Văn Q– Đại diện theo pháp luật của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ban quản lý dự án và phát triển quỹ đất huyện Đắk Song: Hoàn toàn đồng ý với ý kiến và quan điểm giải quyết của Ủy ban nhân dân huyện Đắk Song.
Tại bản án hành chính sơ thẩm số 05/2022/HC-ST ngày 12 tháng 5 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Đ2, đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 30; khoản 4 Điều 32; khoản 2 Điều 56; điểm a khoản 3 Điều 116; điểm a khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính;
Tuyên xử:
Bác yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T đối với yêu cầu huỷ Điều 2 tại phần quyết định của Quyết định số 1166/QĐ-UBND ngày 06-8-2021 của Chủ tịch UBND tỉnh Đ2.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 27/5/2022 bà Nguyễn Thị T làm đơn kháng cáo với nội dung yêu cầu cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm vì vi phạm nghiêm trọng điểm c khoản 2 Điều 194 Luật Tố tụng hành chính.
Tại phiên tòa phúc thẩm bà T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Đại diện VKSND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Về hình thức: Đơn kháng cáo làm, nộp trong hạn nên hợp lệ.
Về nội dung: đề nghị không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tung:
Trong hạn luật định Bà T làm đơn kháng cáo nên được đưa ra xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Tòa án cấp sơ thẩm xác định đúng về: Thời hiệu khởi kiện, thẩm quyền giải quyết, đối tượng khởi kiện.
. Xét kháng cáo của bà T Hội đồng xét xử thấy:
Bà T khởi kiện yêu cầu:
Hủy Điều 2 phần Quyết định của Quyết định số 1166/QĐ-UBND ngày 06/8/2021 của Chủ tịch UBND tỉnh Đ2 về việc giải quyết khiếu nại lần 2 đối với gia đình bà T.
Buộc UBND huyện Đ1 phải bồi thường thiệt hại cho gia đình bà số tiền 300.000.000 đồng.
Cơ sở cho việc yêu cầu trên:
- Ngày 07/10/2019 UBND huyện Đ1 ban hành thông báo 138/TB-UBND về việc T hồi đất để xây dựng dự án công trình đường vành đai phía Đông huyện.
- Ngày 15/6/2020 UBND huyện Đ1 ban hành Quyết định số 569/QĐ-UBND về việc phê duyệt bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng dự án công trình vành đai phía Đông huyện Đ1. Trong đó bồi thường cho gia đình bà T 34.282.000 đồng nhưng bà T không đồng ý.
- Ngày 04/12/2020 UBND huyện Đ1 ban hành công văn số 5479/UBND-BQL về việc điều chỉnh cửa xả tại km 1+622,09 và tim đường Tộc công trình đường vành đai phía Đông huyện Đ1 nên vị trí không còn trên đất bà T mà sang đất ông Nguyễn Văn T(liền kề bà T).
Ngày 11/12/2020 UBND huyện ban hành Quyết định 1698/QĐ-UBND về việc T hồi Quyết định số 567/QĐ-UBND ngày 15/6/2020 về việc T hồi 578,8 m2 đất của bà T.
Bà T khiếu nại đến UBND huyện, ngày 15/3/2021 Chủ tịch UBND huyện Đ1ban hành QĐ 367/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại lần đầu không chấp nhận khiếu nại của bà T. Bà T tiếp tục khiếu nại đến Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Nông.
Ngày 06/8/2021 Chủ tịch UBND tỉnh ban hành Quyết định 1166/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại lần 2.
Đối với yêu cầu hủy Điều 2 QĐ 1166/QĐ-UBND ngày 06/8/2021 của Chủ tịch UBND tỉnh Đ2 của bà Nguyễn Thị T.
Điều 2: Giao cho UBND huyện Đ1hỗ trợ phần thiệt hại cho bà Nguyễn Thị T do thực tế quá trình T hồi đất diễn ra làm thiệt hại đến quyền sử dụng đất, giảm nguồn T tài sản gắn liền với đất bị ảnh hưởng thiệt hại. Trường hợp không đồng ý với mức hỗ trợ thiệt hại bà T có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo thẩm quyền.
Theo quyết định 1166/QĐ-UBND ngày 06/8/2021 thì khiếu nại của bà T được chấp nhận.
Thực hiện Điều 2 của quyết định UBND huyện Đ1đang tiến hành xem xét, hỗ trợ cho bà T theo quy định của pháp luật, cụ thể: giao Ban quản lý dự án và phát triển quỹ đất huyện Đ1tham mưu UBND huyện lập phương án hỗ trợ cho bà Nguyễn Thị T theo đúng quy định của pháp luật.
Ngày 10/9/2021 Ban quản lý dự án và phát triển quỹ đất huyện Đ1đã mời bà T làm việc để đối thoại về số tiền hỗ trợ, nhưng bà T không đồng ý với dự kiến phương án hỗ trợ (BL 178).
Ngày 10/9/2021 Ban quản lý dự án đã ra báo cáo số 142/BC-BQL đề nghị UBND huyện Đ1xem xét và có ý kiến chỉ đạo.
Do đó, Điều 2 QĐ 1166/QĐ-UBND ngày 06/8/2021 của Chủ tịch UBND tỉnh không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà T. Tòa án cấp sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện của bà T đối với yêu cầu hủy Điều 2 của Quyết định 1166/QĐ-UBND ngày 06/8/2021 của Chủ tịch UBND tỉnh Đăk Nông là có căn cứ. Bà T kháng cáo nhưng không đưa ra được chứng cứ chứng minh nên bác kháng cáo của bà T đối với yêu cầu này.
Đối với yêu cầu buộc UBND huyện Đ1bồi thường 300.000.000 đồng:
- Điều 2 QĐ số 1166/QĐ-UBND đã nêu: “Trường hợp không đồng ý với mức bồi thường……thì bà T có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo thẩm quyền…”
- Theo luật trách nhiệm bồi thường Nhà nước: việc khởi kiện phải đảm bảo quy định tại khoản 8 Điều 46.
Trong vụ án này bà T khởi kiện yêu cầu bồi thường nhưng chưa tiến hành các thủ tục nên tòa án sơ thẩm trong phần nhận định đối với yêu cầu của bà T. Cụ thể, Trường hợp sau khi UBND huyện Đ1 quyết định phê duyệt số tiền hỗ trợ cho bà T do thực tế quy trình T hồi đất làm hạn chế quyền sử dụng đất, giảm nguồn T, tài sản gắn liền với đất bị ảnh hưởng thiệt hại mà bà T không đồng ý thì có thẩm quyền khiếu nại đất người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại theo quy định của luật khiếu nại hoặc khởi yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Trường hợp UBND Đ1 không thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ thiệt hại cho bà T, thì bà T được quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác theo quy định pháp luật tố tụng dân sự.
Tuy nhiên trong phần quyết định của bản án không nêu cấp phúc thẩm cần đưa trong phần quyết định.
Từ những phân tích trên HĐXX chấp nhận 1 phần kháng cáo của bà Nguyễn Thị T sửa bản án sơ thẩm.
Do kháng cáo được chấp nhận một phần nên bà T không phải nộp án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng Khoản 2 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính.
Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Nguyễn Thị T, sửa bản án sơ thẩm.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 30; khoản 4 Điều 32; khoản 2 Điều 56; điểm a khoản 3 Điều 116; điểm a khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính;
Tuyên xử:
1. Bác yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T đối với yêu cầu hủy Điều 2 tại phần quyết định của QĐ 1166/QĐ-UBND ngày 06/8/2021 của Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Nông.
Tách yêu cầu khởi kiện “Buộc UBND huyện Đ1phải bồi thường thiệt hại cho gia đình bà Nguyễn Thị T số tiền 300.000.000 đồng” thành vụ kiện khác khi có đủ điều kiện khởi kiện và có đơn khởi kiện yêu cầu.
2. Án phí hành chính phúc thẩm: bà T không phải chịu. Trả lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai T số 0000112 ngày 10/6/2022 tại Cục thị hành án dân sự tỉnh Đăk Nông.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TANDTC - VKSNDCC tại TPHCM. - TAND tỉnh Đăk Nông; - VKSND tỉnh Đăk Nông; - Cục THADS tỉnh Đăk Nông; - Các đương sự; - Lưu HS (02) VP (5) 15b (Án PAT) Các thẩm phán Nguyễn Văn Minh Phan Nhựt Bình | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Trí Tuấn Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phạm Trí Tuấn |