vanban.org

Bản án 806/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Mai Thị Kim N.

1 Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Mai Thị Kim N và ông Nguyễn Minh T. 2 Về con chung: Bà Mai Thị Kim N và ông Nguyễn Minh T có 01 con chung tên Nguyễn Trọng P, sinh ngày 30/6/2016. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Kim N - Nguyễn MINH T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Mai Thị Kim N.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 806/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 16/7/2019
V/v Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Châu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Tiến Dũng

2. Bà Nguyễn Thị Lượng

- Thư ký phiên tòa: Lưu Thị Ngọc Hương – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Bá Thu Thư – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1333/2018/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 12 năm 2018 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 274/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Mai Thị Kim N, sinh năm 1994

Thường trú: đường Q, khu phố B, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ liên lạc: đường B, phường A, thị xã D, tỉnh Bình Dương (có đơn xin vắng mặt).

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Minh T, sinh năm 1991

Thường trú: đường Q, khu phố B, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Nguyên đơn bà Mai Thị Kim N trình bày:

Bà Mai Thị Kim N và ông Nguyễn Minh T tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 26/11/2014. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống tự lập. Ban đầu, cuộc sống chung vợ chồng hạnh phúc. Đến khoảng giữa năm 2018 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông T không quan tâm, chia sẻ với vợ, không chăm lo cho gia đình, thường tụ tập ăn chơi, không đi làm. Bà N đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng ông T không thay đổi. Hai bên đã ly thân từ tháng 10/2018 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân, không bên nào có thiện chí hàn gắn quan hệ vợ chồng và cũng không quan tâm đến cuộc sống của nhau. Nay, bà N xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu được ly hôn với ông T.

Về con chung: Bà N và ông T có 01 con chung tên Nguyễn Trọng P, sinh ngày 30/6/2016. Bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

2. Bị đơn ông Nguyễn Minh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng giải quyết vụ án nhưng vắng mặt không rõ lý do.

3. Tại phiên tòa:

Bà Mai Thị Kim N có đơn xin vắng mặt trong phiên tòa xét xử vụ án và xác định vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Về quan hệ hôn nhân: Bà N yêu cầu được ly hôn với ông T; Về con chung: Bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Trọng P, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Ông Nguyễn Minh T đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do.

4. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

4.1

:

thủ tục

vụ án

khi

, quyết định đưa vụ án ra xét xử

y

t

. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, đồng thời, quyền và nghĩa vụ của đương sự được tôn trọng và bảo đảm đúng quy

.

4.2

: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cùng lời khai của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

- Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Bà Mai Thị Kim N yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Minh T. Theo Kết quả xác minh của Công an phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị đơn ông T đang cư trú tại đường Q, khu phố B, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì quan hệ tranh chấp là ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Nguyên đơn bà N có đơn xin được vắng mặt trong phiên tòa xét xử vụ án. Căn cứ Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

- Bị đơn ông Nguyễn Minh T đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ lần thứ hai vẫn vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ Điểm b Khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông T.

Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân:

Bà Mai Thị Kim N và ông Nguyễn Minh T tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 26/11/2014 và được Ủy ban nhân dân phường Hiệp Bình Phước, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 157, quyển số 01/2014. Do đó, căn cứ Điều 9, Điều 11 và Điều 12 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông T là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu của bà Mai Thị Kim N, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Căn cứ Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.

Theo Văn bản số 406/LĐTB ngày 27/3/2019 của Phòng Lao động Thương binh và Xã hội quận Thủ Đức thì cuộc sống vợ chồng của bà N và ông T đã phát sinh mâu thuẫn và bà N đã rời khỏi nhà chuyển đi nơi khác sống.

Xét thấy, trong quá trình Tòa án thu thập chứng cứ, bà N cương quyết yêu cầu được ly hôn với ông T vì bà N đã không còn tình cảm với ông T và hiện tại bà N với ông T đã không còn chung sống với nhau, mỗi bên đều có cuộc sống riêng của mình, không bên nào quan tâm đến cuộc sống của nhau, cuộc sống vợ chồng giữa hai bên đã không còn tồn tại trên thực tế. Như vậy, mâu thuẫn giữa bà N và ông T đã thật sự trầm trọng, khả năng hàn gắn đoàn tụ gia đình không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà N.

- Về con chung:

Căn cứ Trích lục khai sinh số 580/TLKS-BS ngày 08/7/2016 của Ủy ban nhân dân phường Hiệp Bình Phước, quận Thủ Đức và Văn bản số 406/LĐTB ngày 27/3/2019 của Phòng Lao động Thương binh và Xã hội quận Thủ Đức, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở xác định bà N và ông T có 01 con chung tên Nguyễn Trọng P, sinh ngày 30/6/2016.

Xét, bà N là người nuôi dưỡng con chung từ khi sinh ra cho đến nay và tuổi con chung vẫn còn quá nhỏ, cần có sự quan tâm, chăm sóc của người mẹ. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định giao con chung tên Nguyễn Trọng P cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà N không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Do đây là tranh chấp hôn nhân gia đình về ly hôn nên bà N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Điều 186, Khoản 2 Điều 227, Khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 9, Điều 11 và Điều 12 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000;

- Căn cứ Điều 19, 51, 53, 54, 56, 57, 58, 59, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Luật Phí và Lệ phí năm 2015;

- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Mai Thị Kim N.

1.1 Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Mai Thị Kim N và ông Nguyễn Minh T.

1.2 Về con chung: Bà Mai Thị Kim N và ông Nguyễn Minh T có 01 con chung tên Nguyễn Trọng P, sinh ngày 30/6/2016.

Giao con chung tên Nguyễn Trọng P cho bà Mai Thị Kim N trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Mai Thị Kim N không yêu cầu ông Nguyễn Minh T cấp dưỡng nuôi con chung.

Không bên nào được ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Vì quyền lợi mọi mặt của con, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

1.3 Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Mai Thị Kim N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2018/0023125 ngày 13 tháng 12 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Mai Thị Kim N đã nộp đủ án phí.

3. Về quyền kháng cáo:

Bà Mai Thị Kim N và ông Nguyễn Minh T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ