vanban.org

Bản án 804/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Vềquanhệ hônnhân:Cho chị Vũ Thị Hđượcly hônanh Lê Văn T.

Về con chung: Giao 02 con chung tên Lê Vũ Khánh L, sinh ngày 23/6/2008 và Lê Vũ Thảo K, sinh ngày 16/8/2011 cho chị Vũ Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc đến khi hai con đủ 18 tuổi và có khả năng lao động hoặc có thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Giải quyết ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Vềquanhệ hônnhân:Cho chị Vũ Thị Hđượcly hônanh Lê Văn T.
  • Căn cứ chính? Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 Án phí, lệ phí tòa án; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THUỶ NGUYÊN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 804/2017/HNGĐ-ST
Ngày: 12 - 12- 2017
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂNHUYỆNTHUỶ NGUYÊN, THÀNH PHỐHẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Sự.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hoàng Đắc Hân

2. Ông Hoàng Đức Cảnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Mến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 12 năm 2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 689/2017/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2017 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 401/2017/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Vũ Thị H, sinh năm 1979; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn 11, xã Ng, huyện T, thành phố Hải Phòng; Chỗ ở: Số 55, đường B, thị trấn N, huyện T, thành phố Hải Phòng. Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Lê Văn T, sinh năm 1981; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn 11, xã N, huyện T, thành phố Hải Phòng; Chỗ ở: Số 55, đường B, thị trấn N, huyện T, thành phố Hải Phòng. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và lời khai tại Tòa án nhân dân huyện T, nguyên đơn là chị Vũ Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị kết hôn với anh Lê Văn T vào năm 2007 trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã N, huyện T, thành phố Hải Phòng vào ngày 13 tháng 12 năm 2007. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại thôn 11, xã N, huyện T, thành phố Hải Phòng một thời gian sau đó vợ chồng thuê nhà làm cửa hàng kinh doanh, buôn bán tại số nhà 55, đường B, thị trấn N, huyện T, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn nhưng căng thẳng nhất là vào đầu năm 2017. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống và trong làm ăn kinh tế, nên thường xảy ra đánh cãi nhau. Mâu thuẫn vợ chồng đã được bạn bè và gia đình khuyên giải nhiều lần nhưng không có kết quả, nên vợ chồng chị đã sống ly thân nhau đến nay không ai quan tâm đến ai. Nay chị H khẳng định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh T không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết xin ly hôn anh Lê Văn T.

Về con chung: Chị Vũ Thị H trình bày vợ chồng có 02 con chung tên Lê Vũ Khánh L, sinh ngày 23/6/2008 và Lê Vũ Thảo K, sinh ngày 16/8/2011. Trường hợp chị và Lê Văn T ly hôn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được nuôi 02 con chung; về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Song tại phiên tòa chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung mà để hai bên tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa án.

Về tài sản chung: Chị Vũ Thị H trình bày vợ chồng có tài sản chung nhưng để hai bên tự thỏa thuận giải quyết, nếu không xong sẽ có đơn đề nghị Tòa án giải quyết sau.

Bị đơn là anh Lê Văn T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh kết hôn với chị Vũ Thị H năm 2007 trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã N, huyện T, thành phố Hải Phòng vào ngày 13 tháng 12 năm 2007. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại thôn 11, xã N, huyện T, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng không hiểu nhau, không thông cảm lẫn nhau nên dẫn đến bất đồng quan điểm sống và trong làm ăn kinh tế nên đã xảy ra cãi mắng nhau. Nay chị H có đơn xin ly hôn anh, quan điểm của anh thừa nhận vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, nay anh mong muốn vợ chồng về đoàn tụ và không muốn ly hôn vì còn tình cảm.

Về con chung: Anh T trình bày vợ chồng có 02 con chung tên Lê Vũ Khánh L, sinh ngày 23/6/2008 và Lê Vũ Thảo K, sinh ngày 16/8/2011. Trường hợp nếu chị H quyết tâm xin ly hôn nguyện vọng của anh được nuôi con tên Lê Vũ Khánh L, chị H nuôi con chung tên Lê Vũ Thảo K, về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung để hai bên tự thỏa thuận giao nhận cho nhau không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh Ttrình bày vợ chồng có tài sản chung nhưng để hai bên tự thỏa thuận giải quyết, nếu không xong sẽ có đơn đề nghị Tòa án giải quyết sau.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn chị Vũ Thị H, bị đơn anh Lê Văn T đã chấp hành đúng quy định của pháp luật, Kiểm sát viên đề nghị Tòa án căn cứ Điều 28; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Về con chung: giao 02 con chung tên Lê Vũ Khánh L, sinh ngày 23/6/2008 và Lê Vũ Thảo K, sinh ngày 16/8/2011 cho chị Hiền nuôi dưỡng, chăm sóc, về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung và tài sản chung đề nghị Tòa án căn cứ pháp luật giải quyết.

Các tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp và Tòa án thu thập gồm: Bản sao Giấy khai sinh của con; bản sao Giấy chứng minh nhân dân mang tên Vũ Thị H, Lê Văn T; bản sao Sổ hộ khẩu gia đình; Bản chính Giấy chứng nhận kết hôn; biên bản xác minh tại Ủy ban nhân dân N, huyện T, thành phố Hải Phòng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ hôn nhân: Xét quan hệ hôn nhân giữa chị Vũ Thị H và anh Lê Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn, nhưng căng thẳng nhất là từ đầu năm 2017. Nay chị Vũ Thị H khẳng định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh Lê Văn T không còn, đề nghị Tòa án giải quyết xin được ly hôn anh T, anh Lê Văn T không đồng ý ly hôn vì anh còn tình cảm với chị H. Theo tài liệu xác minh thể hiện mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh T do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, trong làm ăn kinh tế, nên dẫn đến vợ chồng thường xảy ra đánh cãi nhau. Mặc dù mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh T đã được gia đình hoà giải nhưng không có kết quả. Chị Vũ Thị H và anh Lê Văn T đến nay đã sống ly thân nhau, không ai quan tâm đến ai. Như vậy thể hiện mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh T đã kéo dài và trầm trọng, khả năng vợ chồng đoàn tụ không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị H, cho chị Vũ Thị H được ly hôn anh Lê Văn T.

Về con chung: Chị Vũ Thị H và anh Lê Văn Tthống nhất trình bày vợ chồng có 02 con chung tên Lê Vũ Khánh L, sinh ngày 23/6/2008 và Lê Vũ Thảo K, sinh ngày 16/8/2011. Trường hợp ly hôn chị H đề nghị được nuôi 02 con chung, anh T không đồng ý và đề nghị mỗi người nuôi 01 con, anh xin được nuôi con chung tên Lê Vũ Khánh L, chị H nuôi con chung tên Lê Vũ Thảo K, về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung để hai bên tự thỏa thuận giao nhận cho nhau không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Xét việc nuôi dưỡng, chăm sóc con chung giữa chị H và anh T không thỏa thuận được. Do đó, Hội đồng xét xử xét, cần giao con cho một bên nuôi để ổn định cuộc sống, học tập. Căn cứ tài liệu xác minh tại địa phương thể hiện điều kiện kinh tế của chị H và anh Th là như nhau, song cháu Lê Vũ Khánh L có nguyện vọng được ở cùng mẹ. Như vậy để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của các con, nên Hội đồng xét xử giao cho chị Vũ Thị H trực tiếp nuôi hai con chung tên Lê Vũ Khánh L, sinh ngày 23/6/2008 và Lê Vũ Thảo K, sinh ngày 16/8/2011 là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Vũ Thị H và anh Lê Văn T thống nhất trình bày để hai bên tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Vũ Thị H và anh Lê Văn T thống nhất trình bày vợ chồng có tài sản chung nhưng để hai bên tự thỏa thuận giải quyết, nếu không xong sẽ có đơn đề nghị Tòa án giải quyết sau. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này, nếu anh Lê Văn T có đơn yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng thì Tòa án sẽ xem xét giải quyết trong vụ án khác.

Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 và Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Nguyên đơn chị Vũ Thị H phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51; Điều 56; Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 26 và Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, xử :

1. Vềquanhệ hônnhân:Cho chị Vũ Thị Hđượcly hônanh Lê Văn T.

2. Về con chung: Giao 02 con chung tên Lê Vũ Khánh L, sinh ngày 23/6/2008 và Lê Vũ Thảo K, sinh ngày 16/8/2011 cho chị Vũ Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc đến khi hai con đủ 18 tuổi và có khả năng lao động hoặc có thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Vũ Thị H phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nay được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005853 ngày 18 tháng 10 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên thành phố Hải Phòng. Chị Vũ Thị H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

Nguyên đơn và bị đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Các đương sự;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- TAND TP Hải Phòng;

- VKSND huyện T;

- Chi cục THADS huyện T;

- UBND xã N, h. T, thành phố Hải Phòng;

- Lưu: VT; hồ sơ vụ án.

Lê Thị Sự

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ

PHIÊN TOÀ Phạm Công Hạ – Bùi Đình Hùng

Lê Thị Sự Nơi nhận:

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Các đương sự;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- TAND TP Hải Phòng;

- VKSND huyện Thuỷ Nguyên;

- Chi cục THADS huyện Thuỷ Nguyên;

- UBND xã Kiền Bái, huyện Thủy Nguyên, TP Hải Phòng;

Lê Thị Sự

- Lưu hồ sơ vụ án. Nơi nhận:

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND TP Hải Phòng;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND huyện Thuỷ Nguyên;

- Chi cục THADS huyện Thuỷ Nguyên;

- UBND xã Kỳ Sơn, huyện Thủy Nguyên, TP Hải Phòng;

- Đương sự;

Khúc Trọng Quang

- Lưu hồ sơ vụ án. TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

NGUYÊN

VIỆT NAM THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Thuỷ Nguyên, ngày 12 tháng 8 năm

2016

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Khúc Trọng Quang Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đỗ Văn Mạnh

2. Ông Hoàng Đắc Hân

Vào hồi 15 giờ 30 phút ngày 12 tháng 8 năm 2016, tại phòng nghị án Hội đồng xét xử sơ thẩm đã tiến hành nghị án đối với vụ án thụ lý số 266/2016/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2016 về việc “Ly hôn”giữa: Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị Tính, sinh năm 1993; đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn 6, xã Liên Khê, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; chỗ ở hiện nay: Thôn Niêm Ngoại, xã Kỳ Sơn, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Bị đơn: Anh Đỗ Văn Tùng, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn 6, xã Liên Khê, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của các đương sự, Hội đồng xét xử thảo luận về những vấn đề phải giải quyết trong vụ án như sau: 1.Về điều luật áp dụng: Áp dụng khoản 1 Điều 28; khoản 2 Điều 227; 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội số 10/2009/PL-UBTVQH12 ngày 27 tháng 02 năm 2009, Kết quả biểu quyết: 3/3 2.Về nội dung vụ án: Xử :

- Chị Đỗ Thị Tính được ly hôn anh Đỗ Văn Tùng

- Về con chung: Chị Đỗ Thị Tính và anh Đỗ Văn Tùng không có con chung và không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết

- Về tài sản chung: Chị Đỗ Thị Tính và anh Đỗ Văn Tùng không có tài chung và không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết Kết quả biểu quyết: 3/3

3.Về các vấn đề khác:

- Về án phí: Chị Đỗ Thị Tính phải nộp 200.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 200.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000057 ngày 26 tháng 5 năm 2016 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên thành phố Hải Phòng. Chị Đỗ Thị Tính đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án do Tòa án tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ. Kết quả biểu quyết: 3/3

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN

TOÀ Hoàng Đắc Hân - Đỗ Văn Mạnh

Khúc Trọng Quang

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN

TOÀ

Khúc Trọng Quang

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN

TOÀ Trần Hữu Văn – Đào Hữu Dự

Khúc Trọng Quang

Cỡ chữ