- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 36 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 803/2022/HNGĐ-ST Ngày: 30-5-2022 V/v tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phi Yến.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thị Tý;
2. Bà Bùi Diệu Huệ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Minh Tiện – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Nghĩa - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 633/2021/TLST- HNGĐ ngày 18 tháng 5 năm 2021 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 12/4/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 73/2022/QĐST-HNGĐ Ngày 06/5/2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm: 1993
Thường trú: xã N, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Tạm trú: 128 đường S, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H. Sinh năm: 1989
Thường trú: xã G, huyện L1, tỉnh Quảng Trị. Tạm trú: 128 đườngS, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 23 tháng 3 năm 2021 của bà Nguyễn Thị N và bản tự khai của các bên đương sự tại tòa cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ thì nội dung vụ án được xác định như sau:
Bà Nguyễn Thị N là nguyên đơn trình bày: Bà và ông Nguyễn Văn H tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 3 do Ủy ban nhân dân xã N, huyện L, tỉnh Quảng Bình cấp ngày 17/01/2017.
Trong quá trình chung sống, thời gian đầu sống hạnh phúc, sau đó vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong mọi vấn đề, tranh cãi thường xuyên xảy ra khiến cho cuộc sống gia đình trở nên ngột ngạt. Trong thời gian dài bà đã cố gắng giữ gìn hạnh phúc gia đình, cố xoa dịu những những mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân nhưng không có kết quả, ngày càng tồi tệ hơn. Vợ chồng đã không còn sống chung với nhau từ năm 2019 cho đến nay. Nay bà yêu cầu:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị N yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn H.
Về con chung: Có một con chung tên Nguyễn Minh K, sinh ngày 06/4/2018. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu ông H cấp dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
Bị đơn ông Nguyễn Văn H mặc dù Tòa án đã nhiều lần triệu tập đến Tòa án để giải quyết vụ án nhưng ông H vẫn vắng mặt không có lý do, do đó Tòa án không ghi nhận được ý kiến và thu thập được chứng cứ từ ông Nguyễn Văn H.
Tại phiên tòa:
Bị đơn vắng mặt. Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa có ý kiến như sau:
- Về Thủ tục tố tụng: Các văn bản tố tụng của Tòa án đều được tống đạt cho đương sự theo đúng quy định pháp luật. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng trình tự tố tụng nhưng chưa đảm bảo đúng thời hạn xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
1] Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp phát sinh giữa bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Văn H là tranh chấp ly hôn. Xét bị đơn có nơi cư trú tại số 128 đường S, phường T, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo kết quả xác minh của Công an phường T, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh thì ông Nguyễn Văn H có đăng ký tạm trú tại địa chỉ trên. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
Về thủ tục xét xử vắng mặt: Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, bị đơn đều vắng mặt không đến Tòa án theo giấy triệu tập. Phiên tòa xét xử vụ án được mở vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 06/5/2022 và 08 giờ 00 phút ngày 30/5/2022, ông Nguyễn Văn H đã được triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt không lý do. Ngày 19/01/2022, nguyên đơn bà Nguyễn Thị N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà N ông H theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung tranh chấp:
Bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Văn H tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 3 do Ủy ban nhân dân xã N, huyện L, tỉnh Quảng Bình cấp ngày 17/01/2017. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Theo bà N trình bày Trong quá trình chung sống, thời gian đầu sống hạnh phúc, sau đó vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong mọi vấn đề, tranh cãi thường xuyên xảy ra khiến cho cuộc sống gia đình trở nên ngột ngạt. Trong thời gian dài bà đã cố gắng giữ gìn hạnh phúc gia đình, cố xoa dịu những những mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân nhưng không có kết quả, ngày càng tồi tệ hơn. Vợ chồng đã không còn sống chung với nhau từ năm 2019 cho đến nay.
Khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh. Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho bị đơn các văn bản tố tụng. Trong đó, thông báo thụ lý; Biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa; Các thông báo trên đã ghi rõ nội dung yêu cầu của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp, nhưng phía bị đơn không đến Tòa án để giải quyết vụ án, không có ý kiến phản hồi về yêu cầu của nguyên đơn, không cung cấp chứng cứ. Như vậy bị đơn đã tự tước bỏ quyền chứng minh và cung cấp chứng cứ của mình.
Trên cơ sở xem xét các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và lời trình bày của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy, cuộc sống chung hiện tại của vợ chồng bà N ông H không có sự quan tâm, chia sẻ, yêu thương nhau. Tòa án đã nhiều lần triệu tập để hòa giải nhưng ông H không đến là không có thiện chí để giải quyết mâu thuẫn vợ chồng. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà N ông H đã trầm trọng, không còn khả năng để hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà N.
Về con chung: Có một con chung tên Nguyễn Minh K, sinh ngày 06/4/2018. Hiện con đang sống với mẹ và được mẹ trực tiếp nuôi dưỡng từ sau khi vợ chồng không sống chung cho đến nay. Nay bà N yêu cầu Tòa án giao con chung cho bà trực tiếp nuôi dưỡng, bà không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi cũng như sự phát triển của trẻ và để hạn chế được phần nào về sự ảnh hưởng tiêu cực về tâm sinh lý của trẻ. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình, xét thấy việc giao trẻ Nguyễn Minh K cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng là hợp lý.
Về tài sản chung, nợ chung và các nghĩa vụ dân sự khác: Bà N khai hai bên không có tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Hội đồng xét xử thống nhất với quan điểm của Kiểm sát viên đã trình bày tại phiên tòa về hướng giải quyết vụ án.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị N phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2019/0063725 ngày 17/5/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1,3 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 56, Điều 57, Điều 58, khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ vào Luật Thi hành án Dân sự.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N.
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị N được ly hôn với ông Nguyễn Văn H. Giấy chứng nhận kết hôn số 3 do Ủy ban nhân dân xã N, huyện L, tỉnh Quảng Bình cấp ngày 17/01/2017 không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
1.2. Về con chung: Giao trẻ tên Nguyễn Minh K, sinh ngày 06/4/2018 cho bà Nguyễn Thị N trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Văn H không cấp dưỡng nuôi con vì bà N không yêu cầu.
Ông H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai được cản trở.
Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi.
1.3. Về tài sản chung, nợ chung và các nghĩa vụ dân sự khác: Bà Nguyễn Thị N xác nhận không có nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị N phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2019/0063725 ngày 17/5/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà N đã nộp đủ tiền án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quyết định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án Dân sự.
| Nơi nhận: -Các đương sự; -Viện kiểm sát cùng cấp; -Lưu: hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Phi Yến |