vanban.org

Bản án 803/2017/QĐ-PT — Dân sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 05/09/2017 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 05/09/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giữ nguyên việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Quyết định đình chỉ số 241/2017/QĐST-DS ngày 08 tháng 6 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.

Nguyên đơn được nhận lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0029761 ngày 01 tháng 12 năm 2016 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện N. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "Tổng công ty A - Nguyễn Phi L"
  • Tòa quyết gì? Giữ nguyên việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Quyết định đình chỉ số 241/2017/QĐST-DS ngày 08 tháng 6 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Căn cứ chính? Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Số: 803/2017/QĐ-PT
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 05 tháng 9 năm 2017

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG NGHỊ ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Bùi Thị Kim Dung

Các Thẩm phán:

Bà Phan Thị Út

Bà Lê Thanh Huyền

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 241/2017/QĐST-DS ngày 08 tháng 6 năm 2017, Tòa án nhân dân huyện N đã căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 192, điểm g khoản 1 Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” giữa:

- Nguyên đơn: Tổng công ty A.

Địa chỉ: đường V, phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Văn P.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hữu C.

(Theo Giấy ủy quyền số 1347/UQ-EVNHCMC ngày 13/4/2016).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Phi L; Sinh năm 1983.

Địa chỉ: đường I, xã M, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại Quyết định kháng nghị số 35/QĐKNPT-VKS-DS ngày 21 tháng 6 năm 2017, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 241/2017/QĐST-DS ngày 08 tháng 6 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện N với lý do: nguyên đơn khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của bị đơn nhưng họ không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ. Do đó Thẩm phán không được trả lại đơn khởi kiện mà xác định bị đơn cố tình giấu địa chỉ và tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung. Quyết định đình chỉ đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự.

XÉT THẤY

Tòa án nhân dân huyện N đã quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm với lý do tại thời điểm nguyên đơn khởi kiện ngày 01/12/2016 thì bị đơn đã bán nhà đi khỏi địa phương từ tháng 02/2014, không rõ đi đâu, nguyên đơn không cung cấp được địa chỉ mới của bị đơn nên thuộc trường hợp chưa đủ điều kiện khởi kiện theo điểm b khoản 1 Điều 192 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Xét, tại đơn khởi kiện ngày 01/12/2016, nguyên đơn đã cung cấp địa chỉ của bị đơn ông Nguyễn Phi L tại xã M, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ kết quả xác minh ngày 16/02/2017 của Công an xã M, huyện N xác định ông L có đăng ký thường trú tại địa chỉ trên, từ tháng 02/2014 ông L không còn cư trú mà chuyển về sinh sống tại đường G, phường H, thành phố K, tỉnh Tây Ninh. Tại kết quả xác minh ngày 19/5/2017 của Công an phường H, thành phố K xác định ông L không có tạm trú tại địa chỉ trên.

Như vậy, trong trường hợp này, nguyên đơn khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của bị đơn nhưng do phía bị đơn không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ. Thẩm phán không được trả lại đơn khởi kiện mà phải tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung. Tòa án cấp sơ thẩm xác định nguyên đơn không cung cấp được địa chỉ của bị đơn là thuộc trường hợp chưa đủ điều kiện khởi kiện và đình chỉ giải quyết vụ án là không đúng theo quy định của điểm e khoản 1 Điều 192 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là có căn cứ, lẽ ra cần phải hủy quyết định đình chỉ, trả hồ sơ về cho Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý, giải quyết lại.

Tuy nhiên, vào ngày 28/6/2017 nguyên đơn đã có đơn đề nghị rút đơn khởi kiện với lý do bị đơn đã thanh toán xong số tiền điện còn nợ, quyền lợi của nguyên đơn đã được đảm bảo. Do đó, việc hủy quyết định đình chỉ, trả hồ sơ về cho Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý, giải quyết lại là không còn cần thiết nên giữ nguyên việc đình chỉ giải quyết vụ án.

Căn cứ vào Điều 314 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

QUYẾT ĐỊNH

1. Giữ nguyên việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Quyết định đình chỉ số 241/2017/QĐST-DS ngày 08 tháng 6 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Nguyên đơn được nhận lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0029761 ngày 01 tháng 12 năm 2016 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện N.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

Nơi!nhận:

TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM!

- Tòa án nhân dân Tối cao;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP

- Tòa án nhân dân cấp cao tại TP.HCM;

- VKSND cấp cao tại TP.HCM;

- Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM;

- Tòa án nhân dân huyện N;

- Chi cục Thi hành án dân sự huyện N;

- Các đương sự (để thi hành);

- Lưu: Vp, Hồ sơ.

Bùi Thị Kim Dung

Cỡ chữ