- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bàn Văn T - vi phạm quy định về xuất cảnh, nhập cảnh; tội ở lại Việt Nam trái phép (điều 347 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bàn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về xuất cảnh”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11-TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 80/2026/HS-ST Ngày 28 - 4 -2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Kim Thu.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Phú Hải;
2. Bà Nguyễn Thị Thân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Công Thái An - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Thương Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 4 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 75/2026/TLST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2026/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 4 năm 2026 đối với bị cáo:
Bàn Văn T, sinh năm 2002, nơi sinh tỉnh Lào Cai; nơi cư trú: Thôn L, xã L, tỉnh Lào Cai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Dao; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bàn Văn L và bà Bàn Thị Đ; vợ, con: không có; tiền án: không; tiền sự: có 01 tiền sự, ngày 21/11/2025, Đồn Biên phòng cửa khẩu Quốc tế X xử phạt Bàn Văn T 4.000.000 đồng về hành vi “Qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục xuất cảnh theo quy định của pháp luật” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 02 ngày 21/11/2025. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 29/01/2026 cho đến nay, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 10/2025, Bàn Văn T sử dụng nền tảng mạng xã hội TikTok được đối tượng không rõ nhân thân, lai lịch liên lạc giới thiệu sang Campuchia làm thuê với tiền lương 15.000.000 đồng/tháng. Ngày 28/10/2025, Bàn Văn T được hướng dẫn đi xe khách từ Lào Cai đến khu vực biên giới tỉnh Tây Ninh (không xác định được địa điểm) thì có người đàn ông điều khiển xe mô tô (không rõ nhân thân, lai lịch, biển kiểm soát) đón và chở đi đường mòn xuất cảnh trái phép sang Campuchia, vào làm thuê trong công ty của người Trung Quốc tại khu C 7 tầng.
Ngày 21/11/2025, Bàn Văn T bị lực lượng chức năng Campuchia truy quét bắt giữ và trao trả về Việt Nam qua của khẩu Quốc tế Xa Mát, bị Đồn Biên phòng cửa khẩu Quốc tế X lập biên bản vi phạm hành chính và ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 151/QĐ-XPHC về hành vi “Qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục xuất cảnh theo quy định của pháp luật”, quy định tại điểm a khoản 3 Điều 18 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực An ninh, trật tự, an toàn xã hội; Phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ; Phòng, chống bạo lực gia đình với số tiền 4.000.000 đồng, Bản Văn T1 đã chấp hành nộp phạt.
Đầu năm 2026, T1 sử dụng mạng xã hội Facebook liên lạc với đối tượng tên “L1” (không rõ nhân thân, lai lịch) giới thiệu việc làm trong Công ty game HAY88 ở Casino 7 tầng tại Campuchia với tiền lương 500 USD/tháng, đối tượng “Linh” yêu cầu T1 kết bạn, liên lạc qua mạng xã hội Telegram với đối tượng tên “N” (không rõ nhân thân, lai lịch) để sắp xếp đưa xuất cảnh trái phép sang Campuchia, toàn bộ chi phí do công ty thanh toán.
Khoảng 17 giờ 45 phút ngày 02/01/2026, T1 đến Thành phố Hồ Chí Minh thì có tài xế taxi (không rõ nhân thân, lai lịch và biển kiểm soát) đón, đưa đến nhà trọ không rõ tên, địa chỉ tại tỉnh Tây Ninh thuê phòng nghỉ qua đêm.
Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 03/01/2026, có người đàn ông điều khiển xe mô tô (không rõ nhân thân, lai lịch, biển kiểm soát) đến đón và chở T1 đi đường mòn xuất cảnh trái phép sang Campuchia qua khu vực biên giới không xác định, vào làm thuê cho công ty G HAY88 trong Casino 07 tầng.
Quá trình làm việc, do không đạt chỉ tiêu doanh số nên Bàn Văn T bị công ty cho nghỉ việc. Khoảng 15 giờ 35 phút ngày 13/01/2026, T ra trước Casino 7 tầng gặp đối tượng tên “T2” (không rõ nhân thân, lai lịch) thuê đưa từ Campuchia nhập cảnh trái phép vào Việt Nam và sử dụng tài khoản ngân hàng M chuyển số tiền 5.300.000 đồng vào tài khoản ngân hàng B số 6612682192 theo yêu cầu của đối tượng “Tâm”. Sau khi thanh toán tiền, Bàn Văn T được người đàn ông điều khiển xe ba bánh Túk Túk không rõ nhân thân, lai lịch đón và chở đi cùng với đối tượng Nguyễn Tuấn S (S và T không có liên hệ, quen biết trước với nhau) đến một ngôi nhà giáp biên giới Việt Nam.
Khoảng 22 giờ cùng ngày, Bàn Văn T và Nguyễn Tuấn S được 02 người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch điều khiển 02 xe mô tô đón và chở đến bìa rừng thì thả xuống yêu cầu đi bộ, sau đó tiếp tục có người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch điều khiển xe mô tô đến chở T, S đưa đến đoạn đường biên giới thì hướng dẫn đi bộ nhập cảnh trái phép vào Việt Nam nhưng khi đang đi đến khu vực cột mốc 106/2 thuộc ấp T, xã T, tỉnh Tây Ninh thì bị Đồn Biên phòng cửa khẩu C phát hiện, đưa T và S về trụ sở làm việc, lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi “Qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục xuất cảnh, nhập cảnh theo quy định của pháp luật”, quy định tại điểm a khoản 4 Điều 21 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP, ngày 30/10/2025 của Chính phủ.
Kết luận giám định số 778/KL-KTHS ngày 10/3/2026 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: trích xuất dữ liệu lưu trong đĩa DVD chi tiết file đính kèm mã MD5: 8576951D6C2592A1ECA58ACA02F233F3. Kết quả kiểm tra dữ liệu phục hồi không phát hiện nội dung khác liên quan đến vụ án.
* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:01 điện thoại di động hiệu Iphone 6s Plus màu hồng, số IMEI: 358608075552883, đã qua sử dụng.
* Kê biên tài sản: Bàn Văn T không không có tài sản riêng nên không tiến hành kê biên.
* Phong tỏa tài khoản: Ngày 03/3/2026, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh T ra Lệnh phong tỏa tài khoản số 40 đối với số tiền: 24.345.028 (Hai mươi bốn triệu, ba trăm bốn mươi lăm nghìn, không trăm hai mươi tám) đồng trong tài khoản ngân hàng M Bàn Văn T.
* Đối với các đối tượng “Linh”, “Nhung”, tài xế xe ô tô, mô tô tham gia tổ chức cho Bàn Văn T xuất cảnh trái phép sang Campuchia không xác định được nhân thân, lại lịch, chưa triệu tập làm việc được nên không có căn cứ xử lý.
* Đối với đối tượng Đinh Văn T2 hiện không có mặt tại địa phương nơi cư trú, chưa triệu tập làm việc được nên không đủ căn cứ xử lý, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh T đã ra Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan đến đối tượng Đinh Văn T2, tiếp tục truy xét, điều tra làm rõ xử lý theo quy định của pháp luật.
* Đối với Nguyễn Tuấn S, ngày 19/01/2026 Đồn Biên phòng cửa khẩu C - Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Qua lại biên giới Quốc gia mà không làm thủ tục xuất cảnh, nhập cảnh theo quy định của pháp luật” với số tiền 5.750.000 đồng, đã chấp hành nộp phạt.
* Đối với hành vi nhập cảnh trái phép từ Campuchia vào Việt Nam của bàn văn T, ngày 19/01/2026 Đồn Biên phòng cửa khẩu C đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục nhập cảnh theo quy định của pháp luật” với số tiền 7.500.000 đồng, T đã chấp hành nộp phạt.
Tại bản cáo trạng số 17/CT-VKSKV11 ngày 30 tháng 3 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Bàn Văn T theo quy định tại Điều 347 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Tây Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Bàn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về xuất cảnh”.
Căn cứ Điều 347; điểm i,s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Bàn Văn T mức án từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về xuất cảnh”.
Về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
- Bị cáo: Thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh truy tố.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo đã nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng. Hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Hành vi của bị cáo thể hiện: Ngày 21/11/2025 bị cáo Bàn Văn T đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục xuất cảnh theo quy định của pháp luật. Vào ngày 03/01/2026, Bàn Văn T tiếp tục xuất cảnh trái phép sang Campuchia và đến khoảng 22 giờ ngày 13/01/2026, T nhập cảnh trái phép về Việt Nam khi T đi bộ đến cột mốc 106/2 thuộc ấp T, xã T, tỉnh Tây Ninh thì bị Đồn Biên phòng cửa khẩu C phát hiện. Hành vi của bị cáo T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về xuất cảnh”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 347 Bộ luật hình sự.
Do đó, Cáo trạng số 17/CT-VKSTN-P1 ngày 30 tháng 3 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Bàn Văn T về tội “Vi phạm quy định về xuất cảnh” theo quy định tại Điều 347 Bộ luật Hình sự là có cơ sở, là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Vụ án mang tính chất ít nghiêm trọng, bị cáo T đã có hành vi xâm phạm hoạt động quản lý, kiểm soát biên giới quốc gia nên bị cáo đã xuất cảnh không giấy tờ. Bị cáo đã bị xử phạt hành chính về hành vi vi phạm nhưng vẫn tiếp tục vi phạm. Trước tình hình tội phạm này diễn biến phức tạp, thường liên quan đến các hành vi trốn đi nước ngoài, làm giả giấy tờ, và đôi khi là mầm mống cho tội phạm buôn người. Vì vậy, cần có mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm. Xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để trừng trị và giáo dục ý thức pháp luật để sau khi chấp hành xong hình phạt tù bị cáo sẽ trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.
Khi quyết định hình phạt có xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo:
[4.1.] Tình tiết tăng nặng: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Bàn Văn T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội. Đồng thời phục vụ cho công tác đấu tranh và phòng ngừa tội phạm.
Xử lý vật chứng:
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus màu hồng, số IMEI: 358608075552883, đã qua sử dụng: là tài sản của bị cáo, không liên quan đến việc thực hiện hành vi phạm tội nên cần tuyên trả lại cho bị cáo T nhưng tiếp tục giao Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
* Xử lý đối với tài sản phong tỏa:
Hủy bỏ Lệnh phong tỏa tài khoản số 40 ngày 03/3/2026 của Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh T đối với số tiền: 24.345.028 (Hai mươi bốn triệu, ba trăm bốn mươi lăm nghìn, không trăm hai mươi tám) đồng trong tài khoản ngân hàng M Bàn Văn T.
Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo Bàn Văn T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Bàn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về xuất cảnh”.
Căn cứ Điều 347; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Bàn Văn T 06 (sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/01/2026.
Thời hạn tạm giam là: 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Trả lại cho bị cáo Bàn Văn T: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus màu hồng, số IMEI: 358608075552883, đã qua sử dụng nhưng tiếp tục giao Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
(Vật chứng có đặc điểm chi tiết theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 03/4/2026 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 11, tỉnh Tây Ninh).
Trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án thì chấp hành viên xử lý tiền, tài sản đó để thi hành án theo quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 126 của Luật Thi hành án dân sự.
Trường hợp người phải thi hành án đã tự nguyện thi hành án xong thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định trả lại tiền, tài sản tạm giữ theo quy định tại đoạn 1 khoản 1 Điều 126 của Luật Thi hành án dân sự.
3. Xử lý đối với tài sản phong tỏa:
Hủy bỏ Lệnh phong tỏa tài khoản số 40 ngày 03/3/2026 của Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh T đối với số tiền: 24.345.028 (Hai mươi bốn triệu, ba trăm bốn mươi lăm nghìn, không trăm hai mươi tám) đồng trong tài khoản ngân hàng M Bàn Văn T.
4. Về án phí: căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
Buộc bị cáo Bàn Văn T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
6. Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT.TANDTC (Vụ 1); - Phòng KTNV.TA tỉnh Tây Ninh; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - VKSND khu vực 11 – Tây Ninh; - Cơ quan thi hành án hình sự; - Phân trại tạm giam số 1 CA tỉnh TN; - Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh; - Phòng lý lịch - Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh; - Phòng PV 06 Công an tỉnh Tây Ninh; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ; - Lưu tập án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Mai Thị Kim Thu |