vanban.org

Bản án 80/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng K phạm tội “Tội gây rối trật tự công cộng” và “Tội sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trọng K 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù giam. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trọng K 09 (chín) tháng tù giam. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trọng K - gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng K phạm tội “Tội gây rối trật tự công cộng” và “Tội sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Thông tư số 75/2024/TT-BCA Quy định chi tiết một số điều của…; Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11 – ĐỒNG NAI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2026/HS-ST
Ngày 28-8-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Ông Đỗ Tấn Trường

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Khuyến – Giáo viên nghỉ hưu.

Ông Nguyễn Hoàng Đạt – Giám đốc Công ty TNHH Vinahe

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Đào – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 11 – Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11 – Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phan Tuấn Đạt - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2026, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân Khu vực 11–Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 76/2026/TLST-HS ngày 20 tháng 7 năm 2026, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2026/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 8 năm 2026, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Trọng K, sinh ngày 09/01/2009 tại Đồng Nai; tên gọi khác (không có); Nơi thường trú và chỗ ở: Khu phố 5, phường Phước Bình, thành phố Đồng Nai; Nghề nghiêp: không; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Nguyễn Trọng Chươg, sinh năm 1986, bà Phan Thị H, sinh năm 1984; gia đình bị cáo có 04 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/4/2026 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Ông Nguyễn Trọng C, sinh năm 1986 và bà Phan Thị H, sinh năm 1984; Địa chỉ: Khu phố 5, phường Phước Bình, thành phố Đồng Nai. (có mặt)

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phạm Văn H – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước số 2, thành phố Đồng Nai. (có mặt).

- Người đại diện làm công tác xã hội hỗ trợ cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Hồng TH sinh năm 1987 – Là chuyên viên phòng Văn Hóa – Xã hội thuộc Uỷ ban nhân dân phường Phước Bình, thành phố Đồng Nai. (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).

- Bị hại: Ông Nguyễn Duy T, sinh ngày 08/05/2008; Địa chỉ: Khu phố 1, phường Phước Bình, thành phố Đồng Nai. (vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Trọng C, sinh ngày 15/11/1986; Địa chỉ: Khu phố 5, phường Phước Bình, thành phố Đồng Nai. (có mặt).

- Người làm chứng:

1. Ông Lê Hải Th, sinh ngày 03/07/2009; Địa chỉ: Khu phố Long Điền, phường Phước Bình, thành phố Đồng Nai. (vắng mặt)

2. Ông Đỗ KT, sinh ngày 05/05/2005; Địa chỉ: Khu phố Long Giang; phường Phước Bình, thành phố Đồng Nai. (vắng mặt)

3. Ông Trần AT, sinh ngày 08/12/2008; Địa chỉ: Thôn Đồng Tiến, xã Phú Trung, thành phố Đồng Nai. (có mặt)

4. Ông Hồ Khánh N, sinh ngày 27/10/2006; Địa chỉ: Khu phố Long Phước, phường Phước Bình, thành phố Đồng Nai. (vắng mặt)

5. Ông Trần Gia B1, sinh ngày 06/11/2008; Địa chỉ: Thôn Đồng Tiến, xã Phú Trung, thành phố Đồng Nai. (có mặt)

6. Ông Nguyễn Gia B, sinh ngày 28/12/2010; Địa chỉ: Khu phố Long Phước, phường Phước Bình, thành phố Đồng Nai. (vắng mặt)

7. Ông Trần Vĩnh N1, sinh ngày 16/9/2005; Địa chỉ: Khu phố Sơn Giang, phường Phước Long, thành phố Đồng Nai. (vắng mặt)

8. Ông Lê Minh T1, sinh ngày 12/05/2007; Địa chỉ: Khu phố 3, phường Phước Bình, thành phố Đồng Nai. Hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam Phước Long – Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố Đồng Nai. (vắng mặt)

9. Ông Nguyễn Trọng K2, sinh ngày 18/01/2007; Địa chỉ: Khu phố 5, phường Phước Bình, thành phố Đồng Nai. Hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam Phước Long – Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố Đồng Nai. (vắng mặt)

10. Ông Cao Minh H, sinh ngày 26/08/2007; Địa chỉ: Khu phố 1, phường Phước Bình, thành phố Đồng Nai. Hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam Phước Long – Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố Đồng Nai. (vắng mặt)

11. Ông Huỳnh Gia V1, sinh ngày 11/09/2007; Địa chỉ: Khu phố Long Phước, phường Phước Bình, thành phố Đồng Nai. Hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam Phước Long – Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố Đồng Nai. (vắng mặt)

12. Ông Trần Tuấn S, sinh ngày 11/09/2007; Địa chỉ: Khu phố Long Điền, phường Phước Bình, thành phố Đồng Nai. Hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam Phước Long – Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố Đồng Nai. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Trọng K, Nguyễn Trọng K2 (anh trai của K), Lê Minh T1, Lê HT, Huỳnh Gia V1, Cao Minh H, Hồ Khánh N, Nguyễn Gia B là bạn bè chơi chung với nhau.

Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 27/4/2026, K, K2, T1, Thành, V1, H, Nam, Gia B đi chơi và gặp nhau. Khi cả nhóm đang nói chuyện thì T1 nhận được điện thoại của bạn gái tên Linh báo tin nhóm của Đỗ KT (trước đó có đánh Bảo) đang ở khu vực Quảng trường 6/1 thuộc khu phố 5, phường Phước Bình, thành phố Đồng Nai nên cả nhóm bàn bạc đi tìm nhóm của Tuấn để đánh trả thù cho Bảo.

Lúc đó, K nói xuống khu vực đập Đăk Tôn thuộc khu phố 5 (khu phố Phước An cũ), phường Phước Bình để lấy đồ mà K giấu tại bụi cây cỏ bên cạnh đường xuống đập thì cả nhóm cùng đi. T1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Vision màu đỏ, biển số: 93K1-229.43 chở K; H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Winer, biển số: 60AB-572.17 chở theo K2; Thành điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Exciter, biển số: 34F1-137.27 chở Bảo; Nam điều khiển xe mô tô biển số: 60B1-772.00 chở V1 đi lấy hung khí. Khi đến nơi K cất giấu hung khí, K, K2 và Bảo vào lấy được 01 con dao mã tấu tự chế, 01 con dao rựa phát cỏ, 01 cây ba chỉa, K nói “ai không có đồ nếu bị dí thì chạy về”. Lúc đó, Nam không tham gia mà chở V1 đi về. Sau đó, H chở K2 ngồi sau cầm cây ba chỉa, T1 chở K ngồi sau cầm con dao rựa phát cỏ, còn Thành chở Bảo cầm dao mã tấu tự chế đi đến Quảng trường 6/1 thuộc khu phố 5, phường Phước Bình thì thấy Đỗ KT đang ngồi uống nước cùng với bạn tại đây. Thấy vậy, cả nhóm của K vừa điều khiển xe mô tô với tốc độ cao, vừa nẹt pô xe và cầm hung khí chỉ về phía Tuấn và những người ngồi chung tại đây làm những người này bỏ chạy tán loạn. Sau đó, H dừng xe rồi cùng K2 cầm 01 cây ba chỉa đuổi theo nhóm bạn đang ngồi chung với Tuấn. K và Bảo cũng nhảy xuống xe, mỗi người cầm hung khí đuổi theo những người ở trên, làm những người này hoảng sợ bỏ chạy. Trong lúc đuổi nhóm của Tuấn thì K2 phóng cây ba chỉa về phía Tuấn nên Tuấn nhặt được. Do không còn hung khí trên tay nên K2 nói H chở vào khu vực khu phố 3 (khu phố 9 cũ), phường Phước Bình tìm vỏ chai bia để tiếp tục đi đánh nhau. Còn T1 điều khiển xe chở K, Thành điều khiển xe chở Bảo đi về khu vực trường Trung học phổ thông Phước Bình thì K nhặt được 01 cục gạch vỡ (nửa viên gạch ống) cầm trên tay rồi quay lại khu vực Quảng trường tiếp tục la hét, nẹt pô xe, múa máy hung khí trên tay làm náo loạn khu vực này, K ném cục gạch về phía xe ô tô của Đỗ KT làm móp phần vè trước phía trên bên trái. Lúc đó, T1 chở K, Thành chở Bảo quay lại trường Trung học phổ thông Phước Bình thì gặp Nam chở theo V1 tại đây. Khi gặp nhau, Thành đưa xe của mình cho V1 điều khiển chở Bảo, T1 điều khiển xe chở K để đi vào khu phố Long Điền (khu phố Long Điền 2 cũ), phường Phước Bình đón Trần Tuấn S (do trước đó Thành và K đã gọi điện thoại rủ S đi đánh nhau thì S đồng ý), còn Nam điều khiển xe chở Thành chạy theo phía sau nhưng do xe của Nam yếu và chạy chậm nên không theo kịp nhóm K, T1, V1, Bảo.

Khi nhóm T1, K, V1, Bảo đến khu phố Long Điền gặp được S thì T1 điều khiển xe của mình chở S (S mang theo 01 cây súng loại súng đồ chơi, giống loại súng RULO) và K cầm theo dao rựa, V1 điều khiển xe chở Bảo ngồi phía sau cầm theo dao mã tấu rồi cả nhóm tiếp tục đi ra Trung tâm thương mại Phước Bình. Tại đây, cả nhóm gặp nhóm của Trần AT, Trần Gia B và Nguyễn Duy T đang điều khiển xe đi theo chiều ngược lại ở khu vực này. Do trước đó Nguyễn Gia B có mâu thuẫn với T nên Bảo nói quay lại và la lên “nó đây rồi”. Thấy vậy, nhóm của T dừng xe lại, Tuấn đang ngồi trên xe của T thì xuống xe lấy 01 con dao inox dài 29cm, phần lưỡi dài 15cm, bản rộng 2,5cm, phần cán bằng nhựa màu đen dài 14cm, bản rộng 2,5cm trong người ra chỉ về nhóm của T1, S, K, V1, B nói “tụi mày lại đây” còn T ngồi trên xe dùng tay trái rút dây thắt lưng trên quần đang mặc ra, tay phải vẫn giữ tay lái xe thì nhóm T1, S, K V1, B tưởng Tuấn cầm súng nên điều khiển xe bỏ đi. Lúc đó, Trần Gia B1 điều khiển xe mô tô hiệu Suzuki Sport màu đỏ, biển số 93F1- 388.02 chở theo Tuấn trên tay cầm dao đuổi theo nhóm Nguyễn Gia B, T điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vario màu bạc, biển số: 60AC-208.04 đi theo phía sau (do mải chạy xe nên T làm rơi dây thắt lưng quần trên đường mà không biết). Sau khi bỏ đi vào đường vòng Trung tâm thương mại thì K nói cả nhóm quay xe lại chỗ nhóm T. Thấy nhóm T1, S, K , V1, Bảo quay lại đuổi thì Trần Gia B1 chở Trần AT quay đầu xe bỏ chạy thì T cũng quay xe lại. Đến khu vực đường ĐT 759 thuộc khu phố 5 (khu phố 6 cũ), phường Phước Bình, thành phố Đồng Nai thì Trần Gia B1dừng xe lại, Tuấn cũng xuống xe, tay trái cầm dao chỉ về phía nhóm T1, S, K, V1, Bảo và dơ dao lên dọa ném về phía nhóm này rồi bỏ chạy trốn. Khi Tuấn xuống xe thì T cũng chạy tới và cùng B tiếp tục điều khiển xe mô tô đi tiếp thì nhóm T1, S, K, V1, B đuổi tới chặn xe T lại, K xuống xe cầm dao rựa chém T gây thương tích chảy máu bên vai trái thì T bỏ xe ngã ra đường và bỏ chạy qua đường đối diện. Lúc đó, K cầm dao rựa, S cũng xuống xe lấy trong người ra khẩu súng rồi chạy qua đường để đuổi theo T, khi T chạy qua đường đối diện ở trên vỉa hè thì V1 điều khiển xe chở B chạy đến chặn đường, S cầm súng chỉ về hướng T nên T sợ đứng lại, B cầm dao mã tấu lao vào chém 02 cái về hướng người của T trúng vào bắp tay và cẳng tay thì T bỏ chạy, K tiếp tục cầm dao chạy đến đuổi chém T 02 cái trúng vào cẳng tay của T.

Khi nhóm T1, S, K , V1, Bảo vừa đến đuổi chém thì Trần Gia B1 điều khiển xe mô tô bỏ chạy về hướng khu phố 1, phường Phước Bình, thành phố Đồng Nai. Cùng lúc đó, H điều khiển xe mô tô chở K2 cầm theo chai bia chạy đến và đuổi theo B, vừa đuổi K2 vừa dùng tay cầm chai bia thủy tinh ném về phía người của B nhiều cái thì vỏ chai bia rơi xuống đường bắn mảnh vỡ vào chân trái của B làm rách mắt cá trong chân trái trái, chảy máu. Khi đuổi đến khu vực “chợ cũ Phước Bình” thì H và K2 không đuổi nữa mà quay xe lại nơi nhóm T1, S, K, V1, Bảo đang đứng rồi cả nhóm điều khiển xe đi về. Còn Nam khi chở Thành đến thì nhóm của K2 đã đánh T xong nên Nam chở Thành đến khu phố Long Phước (khu phố 3 cũ), phường Phước Bình, sau đó gặp V1 nên đổi xe rồi Nam đi về. Sau khi bị chém, T đến Công an phường Phước Bình trình báo sự việc.

Qua xác minh tại trung tâm Y tế khu vực Phước Long, xác định Nguyễn Duy T bị 01 vết thương vùng vai trái kích thước (02x01)cm; Trần Gia B1 bị 01 vết thương ở mắt cá chân bên trái kích thước (2x0,2)cm.

Đến ngày 28/4/2026, do biết hành vi của mình đã bị Công an phường Phước Bình, thành phố Đồng Nai phát hiện và đang truy tìm nên T1, V1, K, S, Thành, H, Nguyễn Gia B đến Công an phường Phước Bình đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi của mình, đồng thời giao nộp đồ vật, phương tiện liên quan.

Đồ vật, tài liệu, vật chứng đã tạm giữ, thu giữ:

- 01 (Một) Con dao tự chế màu đen bằng kim loại (sắt) cán sắt, lưỡi sắc nhọn tổng chiều dài 79 cm, phần cán dài 50 cm, cán tròn đường kính 03cm, lưỡi dài 29cm, bản lưỡi rộng 04 cm, mũi dao nhọn thu giữ của Nguyễn Gia B

- 01 (Một ) Con dao rựa loại dùng phát cỏ tổng chiều dài 93 cm, cán tre dài 72cm cán tròn đường kính 02cm, phần lưỡi hình móc, bản rộng 04cm, lưỡi dao sắc thu giữ của Nguyễn Trọng K.

- 01 (Một) cây ba chỉa (tự chế bằng kim loại) cán tròn đường kính 02cm bọc bằng ống nhựa dẻo kích thước dài 1,33m gắn với phần dưới (chỉa) có 03 cây kim loại (sắt phi 6) kích thước lần lượt là 41 cm, 50 cm, 41 cm đây là đồ vật do Đỗ KT giao nộp.

- 01 con dao inox dài 29cm, phần lưỡi dài 15cm, bản rộng 2,5cm, phần cán băng nhựa màu đen dài 14cm, bản rộng 2,5cm do Trần AT giao nộp.

- 01 (một) cây súng kiểu Rulo bằng kim loại màu trắng trên thân có chữ Made in China, có trái khế ở giữa loại đồ chơi trẻ em bắn pháo.

- 01 (Một) xe mô tô loại Vision màu đỏ đen biển số 93K1-229.43 xe của Lê Minh T1 giao nộp.

- 01 (Một) xe mô tô hiệu Honda loại Winner, màu đỏ biển số 60AB-572.17 xe của Cao Minh H giao nộp.

- 01 (Một) xe mô tô hiệu Yamaha loại Exciter màu đen biển số 34F1 – 137.27 xe của Lê HT giao nộp.

- 05 (Năm) đoạn video thể hiện diễn biến hành vi phạm tội của các đối tượng được thu giữ từ quần chúng nhân dân.

Ngày 05/05/2026, Trung tâm Pháp y thành phố Đồng Nai ban hành kết luận số: 0586.02/KLTTCT-TTPYTPĐN kết luận:

“- Kết quả chính: vết thương sát mắt cá trong chân trái kích thước 02x0,2cm còn chỉ khâu.

- Kết luận: vết thương sát mắt cá trong chân trái kích thước nhỏ. Tỷ lệ: 01%

Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Gia B1, sinh năm 2008 tại thời điểm giám định là: 01% (Một phần trăm).

- Kết luận khác: không”

Ngày 05/05/2026, Trung tâm Pháp y thành phố Đồng Nai ban hành kết luận số: 0587.02/KLTTCT-TTPYTPĐN kết luận:

“- Kết quả chính: vết thương vùng bả vai trái kích thước 02x0,4cm còn chỉ khâu.

- Kết luận: vết thương vùng bả vai trái kích thước nhỏ. Tỷ lệ: 01%

Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Duy Ti, sinh năm 2008 tại thời điểm giám định là: 01% (Một phần trăm).

- Kết luận khác: Không”

Ngày 07/05/2026, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đồng Nai ban hành kết luận số: 35/KL-KTHS kết luận:

“- 03 (ba) mẫu vật gửi giám định ký hiệu A1, A2 và A4 là dao có tính sát thương cao, thuộc phụ lục 5 “Danh mục dao có tính sát thương cao”ban hành kèm theo Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định chi tiết một số điều của Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ.

- Mẫu vật gửi giám định ký hiệu A3 không thuộc danh mục vũ khí ban hành kèm theo Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định chi tiết một số điều của Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ.

- Khẩu súng gửi giám định ký hiệu A5 là súng đồ chơi không thuộc danh mục vũ khí.”

Ngày 03/6/2026, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đồng Nai ban hành kết luận số: 586/KL-KTHS kết luận (đối với khẩu súng của Trần Tuấn S và con dao mà Trần AT sử dụng):

“02 (hai) mẫu vật gửi giám định ký hiệu A3, A5 trong Kết luận giám định số 35/KL-KTHS ngày 07/05/2026 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đồng Nai không thuộc danh mục công cụ hỗ trợ.”

Ngày 20/5/2026, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự phường Phước Bình ban hành kết luận định giá tài sản số: 07/KL-HĐĐGTS kết luận:

“01 vết móp dài 15cm, rộng 10cm trên bánh xe trước, trước ghế tài xế của xe Ô tô nhãn hiệu TOYOTA loại Corolla Altis màu trắng biển số: 60A-314.83 có chi phí sửa chữa tại ngày 27/04/2026 là 850.000đ (tám trăm năm mươi ngàn đồng).” (Bút lục: 01-06, 25-39, 41, 121-248).

Tại Bản cáo trạng số 23/CT-VKSKV11 ngày 20 tháng 7 năm 2026, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11 – Đồng Nai đã truy tố bị cáo Nguyễn Trọng K về tội “Tội gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và “Tội sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” quy định tại khoản 1 Điều 304 BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng K phạm tội “Tội gây rối trật tự công cộng” và “Tội sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; các điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38, 50 BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, khoản 5 Điều 12, Điều 119 của Luật tư pháp người chưa thành niên:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng K mức án từ 15 đến 18 tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 304, các điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38, 50 BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, khoản 5 Điều 12, Điều 119 của Luật tư pháp người chưa thành niên:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng K mức án từ 09 đến 12 tháng tù.

Áp dụng Điều 55 của Bộ luật hình sự, Điều 121 Luật tư pháp người chưa thành niên 2024. Tổng hợp hình phạt chung đối với bị cáo Nguyễn Trọng K từ 24 đến 30 tháng tù.

Áp dụng khoản 6 Điều 12 của Luật tư pháp người chưa thành niên, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Ngoài ra còn xử lý về trách nhiệm bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng của vụ án và án phí.

Tại phiên tòa:

Người bào chữa của bị cáo thống nhất với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, khung hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt, điều luật áp dụng và mức hình phạt và cũng xin được giảm nhẹ theo mức thấp nhất của Viện kiểm sát đề nghị .

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc kH nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Hành vi phạm tội: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, kết luận giám định, biên bản hiện trường, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Trên cơ sở đó đã xác định được:

Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 27/4/2026, tại khu vực Quảng trường 6/1 và khu vực Trung tâm thương mại Phước Bình thuộc khu phố 5, phường Phước Bình, thành phố Đồng Nai là khu vực công cộng, có nhiều người dân đang ngồi chơi, sinh hoạt và xe cộ đi qua lại trên đường, Nguyễn Trọng K có hành vi ngồi sau xe mô tô do Lê Minh T1 điều khiển (chạy với tốc độ cao, nẹt pô), la hét, chửi bới và cầm trên tay 01 con dao rựa đuổi đánh nhau, cầm 01 cục gạch vỡ (nửa viên gạch ống) ném trúng xe ô tô của Đỗ KT gây thiệt hại về tài sản là 850.000 đồng. Hành vi này là coi thường pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Ngoài ra, Nguyễn Trọng K còn có hành vi sử dụng dao có tính sát thương cao mang đi đánh nhau nhằm mục đích xâm phạm sức khỏe của người khác trái pháp luật, thực tế đã chém gây thương tích cho Nguyễn Duy Tiến với tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 01%. Căn cứ điểm d khoản 2 Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ số 42/2024/QH15 ngày 29/6/2024 của Quốc hội và Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15 tháng 11 năm 2024 của Bộ Công an thì con dao mà K sử dụng là vũ khí quân dụng.

Các hành vi của bị cáo đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành tội “Tội gây rối trật tự công cộng” với tình tiết định khung “dùng hung khí và có hành vi phá phách” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và “Tội sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” quy định tại khoản 1 Điều 304 BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Hành vi của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến xâm phạm an ninh trật tự, an toàn xã hội, làm mất trật tự trị an tại địa phương và quy định về quản lý vụ khí quân dụng là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ, đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương.

Xét bị cáo là người chưa thành niên nhưng bị cáo nhận thức được hành vi gây rối trật tự công cộng và sử dụng trái phép vũ khí quân dụng là vi phạm pháp luật và sẽ bị pháp luật nghiêm trị. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, thể hiện thái độ coi thường pháp luật. Vì vậy cần xử bị cáo mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú, phạm tội lần đầu, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị hại xin bãi nại cho bị cáo, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đồng thời bị cáo là người chưa thành niên nên khi quyết định hình phạt cần xem xét áp dụng mức án theo quy định tại Điều 112, khoản 1 Điều 119 của Luật tư pháp người chưa thành niên năm 2024 để quyết định hình phạt.

Hình phạt bổ sụng: Áp dụng khoản 6 Điều 12 của Luật tư pháp người chưa thành niên, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Quan điểm người bào chữa của bị cáo là có căn cứ nên được chấp nhận.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11 – Đồng Nai tại phiên tòa về tội danh, khung hình phạt, điều luật áp dụng và mức hình phạt là có căn cứ, đúng quy định pháp luật nên được chấp nhận.

Đối với các hành vi và đối tượng khác:

Đối với hành vi của Nguyễn Trọng K ném gạch làm hư hỏng xe ô tô của Đỗ KT gây thiệt hại 850.000 đồng: Do giá trị tài sản bị thiệt hại chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên ngày 06/6/2026, Công an phường Phước Bình đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Trọng K về hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản theo quy định của pháp luật nên không xem xét.

Đối với hành vi của Nguyễn Trọng K gây thương tích cho Nguyễn Duy T với tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 01%: Do T không yêu cầu xử lý hình sự nên ngày 07/7/2026, Công an phường Phước Bình đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Trọng K về hành vi cố ý gây thương tích theo quy định của pháp luật nên không xem xét.

Đối với Lê HT: Do có đủ điều kiện được áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng nên ngày 16/6/2026, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đồng Nai đã có văn bản đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đồng Nai xem xét, quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng số E1924/ĐN-VPCQCSĐT đối với Lê HT. Ngày 09/7/2026, Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đồng Nai mở phiên họp và ban hành Quyết định số 01/QĐ-TA về việc áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng “Giáo dục tại trường giáo dưỡng” trong thời hạn 20 tháng đối với Lê HT. Trên cơ sở đó, ngày 10/7/2026, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đồng Nai đã ra Quyết định đình chỉ điều tra bị can số E1373/QĐ-VPCQCSĐT đối với bị can Lê HT theo quy định của pháp luật nên không xem xét.

Đối với Lê Minh T1, Nguyễn Trọng K2, Cao Minh H, Huỳnh Gia V1 và Trần Tuấn S đã bị Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đồng Nai khởi tố về Tội gây rối trật tự công cộng theo quy định tại khoản 2 Điều 318 BLHS, sau đó tách ra để xử lý trong vụ án hình sự khác theo Quyết định tách vụ án hình sự số E1024/QĐ-VPCQCSĐT ngày 28/5/2026. Do đó, không xem xét giải quyết trong vụ án này.

Đối với các đối tượng Hồ Khánh N, Trần AT, Nguyễn Duy T, Trần Gia B1 và những đối tượng khác liên quan đang tiếp tục điều tra để giải quyết trong vụ án cùng với nhóm T1, K2, H, V1, S nên không để cập đến trong vụ án này.

Về trách nhiệm dân sự:

Đối với thiệt hại về tài sản của Đỗ KT, do Tuấn chưa có yêu cầu bồi thường nên không xem xét.

Đối với thiệt hại về sức khỏe của Nguyễn Duy T, T và gia đình đã nhận tiền bồi thường và không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu huỷ đối với 01 (Một) Con dao rựa loại dùng phát cỏ tổng chiều dài 93 cm, cán tre dài 72cm cán tròn đường kính 02cm, phần lưỡi hình móc, bản rộng 04cm, lưỡi dao sắc thu giữ của Nguyễn Trọng K.

Đối với những đồ vật, tài liệu, vật chứng đã tạm giữ, thu giữ còn lại. Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đồng Nai đã nhập kho vật chứng để phục vụ truy tố, xét xử trong vụ án khác nên không xem xét giải quyết trong vụ án này.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Trọng K phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng K phạm tội “Tội gây rối trật tự công cộng” và “Tội sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; các điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38, 50 BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 12, Điều 119 của Luật tư pháp người chưa thành niên:

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trọng K 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù giam.

Áp dụng khoản 1 Điều 304, các điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38, 50 BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 12, Điều 119 của Luật tư pháp người chưa thành niên:

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trọng K 09 (chín) tháng tù giam.

+ Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự, Điều 121 Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024: Tổng hợp hình phạt chung của cả 02 tội buộc bị cáo Nguyễn Trọng K phải chấp hành hình phạt chung 02 (Hai) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 28/4/2026.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu huỷ đối với 01 (Một) Con dao rựa loại dùng phát cỏ tổng chiều dài 93 cm, cán tre dài 72cm cán tròn đường kính 02cm, phần lưỡi hình móc, bản rộng 04cm, lưỡi dao sắc thu giữ của Nguyễn Trọng K.

3. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét, giải quyết.

4. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo Nguyễn Trọng K phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ